Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học - Danh mục các chương trình, đề tài
 
​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 24/6/2021 Công nhận 39 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh. 
 
​Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2016
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2018
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2020
 
Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.
 
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:
 
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong ...
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Hội đồng đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Thi đua – Khen thưởng, các đơn vị có liên quan và các cá nhân có sáng kiến được công nhận chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
Danh sách chi tiết xem tại đây. Tải về

10/03/2021 2:00 CHĐã ban hànhTin
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây NinhNghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Hoàng Đức Đạt Cơ quan chủ trì: Viện Sinh học Nhiệt đới Tp. HCM Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 293,255 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định đặc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi; quy trình kỹ thuật nhân giống và các giải pháp bảo tồn 2 nhóm động vật này đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái, tăng giá trị cảnh quan núi Bà Đen nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch sinh thái.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Công tác thực địa.

- Phân tích đặc điểm hình thái, định loại 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi.

- Nghiên cứu dịch tể học của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giá trị dinh dưỡng của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Thực nghiệm sinh sản nhân tạo và nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý 2 loài động vật này tại Núi Bà Đen Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đặc điểm sinh học hai loài Ốc núi (ốc nhọn - Cyclophorus annamiticus Moellendorff, 1874 và ốc bằng-Cyclophorus annamiticus H. Cross, 1867) ở núi Bà đen đều thuộc giống Cyclophorus.

+ Hai loài ốc núi có hình thái ngoài khác nhau, nhưng có cấu tạo hệ cơ quan giống nhau. Chúng là những loài ốc phân tính, tuy nhiên không phân biệt được con đực, con cái bằng hình thái ngoài của vỏ ốc; sự phân biệt dựa vào sự có mặt của cơ quan giao cấu ở con đực.

+ Thức ăn chủ yếu của hai loài ốc này là các loại lá cây (ăn các loại lá cây đã mục, không ăn lá cây xanh tươi) và mùn bã hữu cơ có trong đất. Trong các loại lá thử cho ăn, ốc ưa thích nhất lá cây thuộc họ dâu tằm (Moraceae), họ chuối (Musaceae), họ ráy (Araceae), họ bụp (Malvaceae).

+ Sinh sản của ốc núi: chưa thu được nhiều dẫn liệu liên quan đến quá trình sinh sản của hai loài ốc này; chưa phát hiện được nơi đẻ trứng, ốc non mới nở. Tuy nhiên đã phát hiện được ốc nhọn non rất nhỏ khoảng 3 tháng tuổi (đối chiếu ốc non nuôi thí nghiệm) tại các vườn chuối vào cuối mùa mưa. Như vậy, Ốc nhọn đẻ trứng vào nửa đầu của mùa mưa; cũng đã bắt gặp ốc bằng con nhưng kích thước lớn hơn (trọng lượng khoảng 1g) vào đầu mùa khô. Như vậy, Ốc bằng đẻ trứng vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Hai loài ốc núi sinh trưởng tương đối chậm. Trong nuôi thí nghiệm, ốc bằng con có trọng lượng trung bình ban đầu 1,01g/con sau 20 tháng nuôi đạt 8,6g/con; ốc nhọn từ khi mới nở có trọng lượng trung bình 0,018g/con, sau 19 tháng nuôi đạt 8,75g/con. Trọng lượng khai thác ốc nhọn trung bình 10,05 ± 0,33g/con; Trong lượng khai thác ốc bằng trung bình 9,96 ± 0,23g/con.

+ Hai loài ốc núi ở núi Bà Đen trưởng thành sinh dục vào năm thứ ba của đời sống; chúng giao phối trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10, tuy nhiên đẻ rộ từ nửa cuối tháng 6 đến tháng 7. Trứng ốc nhọn có dạng hình cầu, đường kính 4,5mm (mỗi ốc cái đẻ từ 6-14 trứng) vùi trong đất mùn, sau khoảng 01 tháng ốc con nở ra (trọng lượng bình quân 0,018g/con), ốc con sống trong lớp mặt của đất mùn, lá mục.

+ Loài Ốc bằng phân bố hẹp có thể là loài đặc hữu của núi Bà đen Tây Ninh. Nhân giống thành công loài Ốc nhọn, trong hai mùa sinh sản đã thu được 6.833 ốc con, trung bình trong một mùa sinh sản một ốc cái sinh sản được 15 ốc con.

+ Trong quá trình thí nghiệm nuôi 2 loài ốc núi cho thấy: loài ốc nhọn sinh sản rất tốt trong điều kiện nuôi thí nghiệm, có thể phát triển nuôi loài này nhằm giảm cường độ khai thác ốc ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học của núi Bà đen.

- Thằn lằn núi ở núi Bà đen Tây Ninh là Gekko ulikovskii Darevsky und Orlov, 1994 thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae), bộ có vảy (squamata), tên phổ thông: tắc kè hoa cân (tên địa phương: thằn lằn núi).

+ Thằn lằn núi là loài ăn tạp, có phổ thức ăn rộng gồm nhiều loài động vật và thực vật khác nhau; độ no của thằn lằn trong mùa khô lớn hơn mùa mưa, ở con cái lớn hơn con đực và con non; địch hại ngoài thiên nhiên của chúng là chồn, khỉ, chuột, rắn, kỳ đà, bìm bịp.

+ Mùa sinh sản của thằn lằn núi ngoài thiên nhiên kéo dài từ tháng 11 đến tháng 02 năm sau, mỗi lứa đẻ thường có hai trứng đính trên vách hay kẻ đá; thằn lằn núi không mang vi sinh vật gây bệnh cho người; tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây của chúng tương đối thấp.

+ Trong điều kiện nuôi thí nghiệm, thức ăn của thằn lằn gồm trái cây chín, côn trùng, cào cào non, sâu bọ; thằn lằn núi đẻ trứng chủ yếu đẻ trứng từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau, số trứng mỗi lứa là 02, nở dao động từ 61 - 85 ngày, trứng được đẻ trong kẻ đá và ống tre.

+ Tỷ lệ đẻ của thằn lằn núi là 22.5% ở mùa đẻ 2004 - 2005 và 62.2% ở mùa đẻ 2005 - 2006, tỷ lệ trứng nở đạt 50% và 67.3% ở 2 mùa đẻ; con mới nở có trọng lượng 1,08g/con, dài 36,1mm.

- Các dẫn liệu sinh học, dịch tể học, thành phần chất dinh dưỡng của Ốc núi và Thằn Lằn núi. Quy trình sinh sản nhân tạo, nhân giống Ốc núi giống 3 tháng tuổi trở lên (cho 2 loài). Quy trình sinh sản nhân tạo, Thằn lằn núi giống 3 tháng tuổi trở lên.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến Công ty Du lịch Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh làm tư liệu xây dựng quy hoạch phát triển ngành và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vịKhảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vị
Đồng chủ nhiệm đề tài: BS.CKI. Nguyễn Thị Thu và PGS.TS. Bùi Trung Cơ quan chủ trì: Sở Y tế tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 201 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá thực trạng tình hình xả thải chất ô nhiễm (nước thải và rác y tế) tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh.

- Xây dựng phương án và quy hoạch xử lý chất thải y tế (CTYT) cho từng đơn vị y tế cấp huyện, thị trấn và bệnh viện chuyên khoa của tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát thực trạng CTYT ở các đơn vị y tế trong tỉnh Tây Ninh.

- Xác lập hệ mô hình xử lý nước thải và lò đốt rác phù hợp.

- Xác lập phương án xử lý CTYT cho từng cơ sở y tế.

- Xây dựng quy hoạch lắp đặt hệ xử lý CTYT tại từng đơn vị.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Lần đầu tiên đã tiến hành khảo sát tại từng cơ sở, thu được các số liệu xác thực về nước thải, mức độ ô nhiễm trong nước thải và số lượng từng loại rác y tế xả ra trong ngày làm cơ sở để xác định qui mô để xử lý phù hợp. Việc khảo sát được thực hiện theo tiêu chuẩn khoa học và phù hợp với qui định của Nhà nước và Bộ Y tế về quản lý chất thải độc hại.

- Thực trạng tình hình xả thải chất ô nhiễm (nước thải và rác y tế) tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh.

+ Lượng chất thải y tế tại trung tâm y tế huyện Bến Cầu hiện nay ở mức trung bình thấp: lưu lượng nước thải bình quân thấp hơn 25 m3/ngày đêm (dao động trong khoảng 10 - 24 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm (dao động từ 3 - 16 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Châu Thành tương đối cao (dao động trong khoảng 56 -103 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 15 kg/ngày đêm (dao động từ 3 - 14,5 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Dương Minh Châu khá cao (dao động trong khoảng 40 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác thải y tế tương đối thấp (dao động từ 3 - 10 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Gò Dầu dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Hòa Thành hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác thải y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm (dao động từ 8 - 17,5 kg).

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm Phòng chống Lao hiện nay ở mức thấp: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 6 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 10 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Tân Biên hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải bình quân 28 m3/ngày đêm; lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Tân Châu hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 10 kg/ngày đêm và một lượng nhỏ các loại hóa chất.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế Thị xã Tây Ninh hiện nay ở mức tương đối thấp: lưu lượng nước thải thấp hơn 10 m3/ngày đêm; lượng rác y tế thấp hơn 4kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Trảng Bàng hiện nay tương đối cao: lưu lượng nước thải trung bình khoảng 50 m3/ngày đêm; lượng rác y tế khá cao 30 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền khá cao so với quy mô hoạt động của đơn vị: lưu lượng nước thải trung bình khoảng 74 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp.

- Nghiên cứu thiết kế mô hình lò đốt rác y tế công suất 25 kg/ngày, các mô hình hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày và 30 m3/ngày. Các mô hình này thích hợp để triển khai tại cơ sở y tế cấp huyện, thị của tỉnh Tây Ninh.

+ Lò đốt rác y tế công suất 25 kg/ngày: nhiệt độ buồng sơ cấp (300 - 9000C); nhiệt độ buồng thứ cấp (1.000 - 1.1000C); điện năng sử dụng (380V- 3 pha- 50 Hz); công suất lắp đặt (20 KW (30 A)); nước sử dụng (Qmax= 100 lít/h; P= 1 Kgf/cm2); trọng lượng tổng cộng 600kg; xử lý khí thải (tách bụi - khói Nox - oxy hoá các chất hữu cơ; cặn sĩ - xử lý axít); điều khiển tự động; mặt bằng sử dụng (dài 3,5m x rộng 3m x cao 3m);

+ Hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày: hoạt động theo công nghệ phân huỷ sinh học do Viện công nghệ hoá học nghiên cứu cải tiến; với quy trình xử lý theo sơ đồ (nước thải —> hố thu —> bể điều hoà —> xử lý vi sinh yếm khí có giá thể —> xử lý vi sinh hiếu khí —> lắng trong —> thu bùn —> khử trùng —> thải ra); hệ xử lý được kết cấu theo bể bê tông cốt thép hợp khối, bền vững lâu dài và đảm bảo vệ sinh môi trường, mỹ quan chung;

+ Hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày: Là công nghệ xử lý UFB của Viện Công nghệ hoá học; với quy trình công nghệ theo sơ đồ (nước thải —> hố thu —> bể điều hòa

—> xử lý vi sinh yếm khí có giá thể —> xử lý vi sinh hiếu khí —> lắng trong —> khử trùng—> thoát ra).

- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm và đề xuất phương án để xử lý CTYT tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh với lò đốt rác và các hệ xử lý nước thải có công suất phù hợp.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Trên cơ sở những số liệu thống kê và các giải pháp kỹ thuật giúp Sở Y tế Tây Ninh xây dựng định hướng quy hoạch xử lý CTYT cho từng đơn vị trực thuộc.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá mức độ lan truyền các chất ô nhiễm của nước thải sản xuất chế biến đường, tinh bột mì, cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đề xuất các giải pháp quản lý và biện pháp khắc phục ô nhiễm nước ngầmNghiên cứu, đánh giá mức độ lan truyền các chất ô nhiễm của nước thải sản xuất chế biến đường, tinh bột mì, cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đề xuất các giải pháp quản lý và biện pháp khắc phục ô nhiễm nước ngầm
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Phước Dân Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 202 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Điều tra đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước ngầm do nước thải sản xuất chế biến đường, bột mì và cao su trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

- Dự báo tình hình lan truyền chất ô nhiễm vào trong đất và nước ngầm. Đề xuất các giải pháp quản lý và các biện pháp khắc phục ô nhiểm nước ngầm do nước thải sản xuất chế biến đường, bột mì và cao su, góp phần cung cấp cơ sở khoa học, tham vấn cho các cơ quan chức năng quy hoạch và phát triển các ngành kinh tế của Tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát, điều tra thực trạng diện tích, sản lượng, số lượng các cơ sở, mức độ ô nhiễm của tầng nước ngầm trong các khu vực có các cơ sở chế biến tinh bột, đường, cao su. Đánh giá những tác động ảnh hưởng của nó đến môi trường, đất, nước, khí và kinh tế xã hội, thực trạng các hệ thống xử lý nước hiện nay trong tỉnh và thu thập các công nghệ điển hình trong và ngoài nước, từ đó đề xuất các phương pháp xử lý nước thải phù hợp với từng ngành.

- Thu thập các số liệu về địa chất, trữ lượng nước ngầm ở các khu vực sản suất từ đó đánh giá khả năng tự thấm của đất.

- Khảo sát thành phần, tính chất của nước thải đặc trưng của ngành chế biến nông sản trong nước ngầm hiện nay. Phân tích thành phần nước thải chế biến tinh bột mì, đường và cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm mạch nông xung quanh các cơ sở chế biến tinh bột mì, đường, cao su. Từ đó nghiên cứu, đánh giá những tác động ảnh hưởng đến môi trường như: đất, khí, nước và kinh tế xã hội xung quanh các cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ảnh hưởng đến kinh tế xã hội và sức khỏe nhân dân trong khu vực có các cơ sở hoạt động.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Tình hình sử dụng và quản lý nước ngầm ở Tây Ninh: Tây Ninh là tỉnh có tiềm năng nước dưới đất phong phú, việc khai thác và sử dụng nước ngầm ở đây đã có từ trước năm 1975; hiện nay quy mô khai thác nước ngầm ngày càng phát triển rộng, các ngành sản xuất tinh bột mì, cao su, chế biến đường sử dụng nước ngầm phục vụ cho sản xuất (với tổng lượng nước tiêu thụ trung bình khoảng 67.400 m3/ngày cho cả 03 đơn vị sản xuất);

- Kết quả phân tích mẫu nước ngầm, mẫu nước mặt, mẫu nước thải tại những khu vực có cơ sở chế biến tinh bột mì, đường và cao su.

+ Theo kết quả khảo sát, khoảng 90% nhà máy chế biến khoai mì trong khu vực có hồ ổn định nước thải không có lớp lót chống thấm và đa số đều bị quá tải, nước sau xử lý không đáp ứng được tiêu chuẩn xả thải;

+ Nước thải chế biến mủ cao su thuộc loại có tính chất gây ô nhiễm nặng (ô nhiễm hữu cơ và ô nhiễm chất dinh dưỡng), nước thải này dể phân hủy kỵ khí tạo thành khí H2S và mercaptan là những hợp chất không những gây độc và ô nhiễm môi trường mà chúng còn là nguyên nhân gây mùi hôi thối ảnh hưởng đến môi trường và dân cư trong khu vực, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và có thể gây nên quá trình phú dưỡng khác;

+ Nước thải nhà máy sản xuất đường có nồng độ chất hữu cơ cao, biến thiên lớn, tỷ số BOD/COD lớn, chứng tỏ nước thải dể phân hủy sinh học; hiệu quả xử lý của hệ thống nước thải ở các nhà máy vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn (COD> 100 mg/l, BOD5>50 mg/l), hệ thống hồ tùy nghi tiếp nối hồ kỵ khí (không chống thấm) gây ô nhiễm các giếng lân cận.

- Các cơ sở sản xuất tinh bột mì, cao su và cơ sở sản xuất đường ở Tây Ninh chưa có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh, gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt tiếp nhận, ảnh hưởng đến chất lượng tầng nước ngầm.

- So với tiêu chuẩn nước dùng cho ăn uống TCVN 5501 - 1991 thì nồng độ BOD và COD trong nước ở khu vực này cao hơn gấp nhiều lần.

- Trong tương lai, nếu các nhà máy sản xuất này, đặc biệt là các nhà máy sản xuất cao su nếu tăng công suất và không có biện pháp xử lý thích hợp thì mức độ nhiễm nước ở tầng 1 khu vực các nhà máy sẽ có nồng độ các chất ô nhiễm vượt mức tiêu chuẩn nhiều lần.

- Để giảm thiểu việc khai thác nước ngầm và giảm thiểu ô nhiễm, cần kiểm soát khai thác nước ngầm; giảm nhu cầu dùng nước; tăng lượng nước bổ cập bằng cách bảo tồn tầng chứa nước; ban hành các luật quy định và tiêu chuẩn hợp lý về bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm; quy hoạch lại các ngành sử dụng nhiều nước. Một số giải pháp kỹ thuật khả thi có thể áp dụng:

+ Xử lý tại chỗ bằng thấm nhanh qua đất: nước ngầm ô nhiễm được bơm lên xử lý sơ bộ, châm chất dinh dưỡng, sục khí. Sau đó, nước được đưa vào hệ thống ống phân phối hoặc mương phân phối và được bơm trực tiếp vào đất nhờ vào quá trình phân hủy của vi sinh vật trong đất, nồng độ chất ô nhiễm giảm đáng kể (xung quanh ống phân phối được bao bọc bằng lớp đá dăm);

+ Xử lý tại nguồn thải: chống thấm toàn bộ hồ chứa sẵn có bằng lớp chống thấm HPDE, tránh không cho nước thải thấm xuống đất vào tầng nước ngầm; xây dựng hệ thống tiền xử lý đạt tiêu chuẩn loại C;

+ Xử lý xa nguồn: nước ngầm ô nhiễm được bơm vào hệ thống xử lý, đưa qua bể lọc sinh học tiếp xúc có sục khí, đi vào bể lắng, vào cột lọc cát nhằm khử SS cũng như phần hữu cơ còn sót lại.

- Nâng cao năng lực của cán bộ chuyên môn về quản lý tài nguyên nước ngầm, mở rộng mạng lưới cấp nước và tuyên truyền ý thức sử dụng nước sạch sâu rộng đến từng người dân, từng gia đình trong tỉnh;

- Phần mềm dự báo lan truyền các chất ô nhiễm từ các cơ sở sản xuất tinh bột mì, cao su, mía đường ảnh hưởng đến nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; bảng đồ hiện trạng tỷ lệ 1/25.000.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 413/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu đã đạt được làm cơ sở giúp cho Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh xây dựng biện pháp quy hoạch, quản lý và xử lý nước ngầm thích hợp cho tỉnh Tây Ninh.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Đờn ca tài tử Nam Bộ ở Tây NinhSưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Đờn ca tài tử Nam Bộ ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Hồng Tăng Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Thông tin Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2009 Thời gian nghiệm thu: năm 2010 Kinh phí thực hiện: 197,64 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xác định quá trình hình thành và phát triển Đờn ca tài tử (ĐCTT) và những giá trị văn hóa của nó để có thêm những cứ liệu khoa học về lịch sử phát triển văn hóa xã hội ở Tây Ninh.

-     Đề xuất định hướng và những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật ĐCTT, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa địa phương theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Khái quát về Đờn ca tài tử Nam Bộ.

-     Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Đờn ca tài tử Nam bộ ở Tây Ninh.

-     Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ninh.

-     Định hướng quản lý và các giải pháp bảo tồn, phát huy Đờn ca tài tử ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, Tây Ninh vừa có những đặc điểm chung của khu vực, lại vừa có những nét riêng của địa phương.

-     Về phong trào và cách tổ chức: Tây Ninh là tỉnh duy trì tốt nhất phong trào ĐCTT với hệ thống các CLB, Đội, nhóm ĐCTT đông đảo và hoạt động thường xuyên ở cơ sở; được các trung tâm văn hóa của huyện, thị, xã, phường tập hợp, quản lý và tạo mọi điều kiện để hoạt động. Tuy nhiên, Tây Ninh chưa có được những chính sách, chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân ĐCTT tiêu biểu như một vài tỉnh trong khu vực.

+ Trên địa bàn 9 huyện thị, các trung tâm văn hóa huyện, thị, xã, phường đều thành lập câu lạc bộ (CLB) ĐCTT hoặc ĐCTT- Cải lương; có khoảng 65 CLB sinh hoạt tại các Trung tâm Văn hóa và 40 đội, nhóm sinh hoạt ngoài nhân dân.

+ ĐCTT Tây Ninh tồn tại dưới 2 dạng: sinh hoạt ngẫu nhiên, sinh hoạt tự giác; và có thể tự hào vì đã có những nhạc sư, những nghệ nhân, nghệ sĩ đã làm nên diện mạo ĐCTT Nam Bộ.

+ Tây Ninh hiện có hơn 200 nghệ nhân có chuyên môn cao và hàng ngàn người chơi ĐCTT thường xuyên, tập trung ở các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Hòa Thành, Thị xã Tây Ninh.

-     Về bài bản: ĐCTT có 20 bài bản tổ (3 Nam, 6 Bắc, 7 Lễ, 4 Oán) và hàng trăm bài biến thể; khi mới hình thành, nhóm ĐCTT miền Đông và miền Tây có một số khác biệt trong bài bản, hòa đàn.

+ Tây Ninh có Tòa Thánh Cao Đài đã chọn nhạc lễ Nam Bộ và ĐCTT làm nguồn “âm nhạc tôn giáo” của Cao Đài; với biểu diễn nghiêm túc, chính xác, chuẩn mực trong dàn nhạc và bài bản tài tử, đã tạo nên một phong cách chơi đặc trưng ở Tây Ninh

-     ĐCTT trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ninh: ĐCTT là loại hình nghệ thuật đặc trưng, món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ trong đó có Tây Ninh, gắn liền qua các giai đoạn lịch sử và có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (trong giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, hội nhập và phát triển).

-     Tuy nhiên về chất lượng (ca, đàn đúng phong cách tài tử không nhiều) nên cần phải tiếp tục kế thừa, bổ sung những cái mới, phong phú hơn, sinh động hơn.

-     Giải pháp của sự bảo tồn và phát huy phong trào ĐCTT Tây Ninh: vận động đổi mới trong phương thức hoạt động để thích nghi với văn hóa thời hội nhập và phát triển; khuyến khích phong tặng danh hiệu nghệ nhân, hoặc Kỷ niệm chương... vì sự nghiệp văn hóa quần chúng; tăng cường giáo dục âm nhạc truyền thống; đào tạo nâng cao chất lượng “truyền nghề” ĐCTT; đặc biệt Nhà nước còn định hướng, tạo ra môi trường pháp lý, trang bị cơ sở vật chất cho ĐCTT.

+ Tạo điều kiện, sân chơi cho hoạt động ĐCTT cơ sở, thuộc các bộ môn như: liên hoan ĐCTT - Cải lương, liên hoan Giọng hát hay - Tay đờn giỏi, liên hoan Nhạc lễ - Trò lễ, liên hoan các CLB - Đội nhóm ĐCTT; mở rộng đối tượng tham gia (khuyến khích lực lượng trẻ, tổ chức ở nhiều cấp); mời nhạc sư, nghệ sĩ ĐCTT nổi tiếng làm giám khảo để đánh giá, phân tích chất lượng, cung cấp thêm kiến thức cho các Đội.

+ Phổ biến các điệu thức căn bản của ĐCTT, giới thiệu các CLB, Đội, nhóm ĐCTT ở địa phương, giới thiệu những tay đàn giỏi, giọng ca độc đáo giao lưu nghệ nhân và bạn xem đài; phát huy tài năng cả về sáng tác lẫn biểu diễn.

+ Chế độ hỗ trợ đối với CLB.ĐCTT, đãi ngộ đối với nghệ nhân ĐCTT: thể hiện sự trân trọng đối với các nghệ nhân bằng cách phong tặng danh hiệu, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng”, hướng họ vào mục đích xã hội, trong đó việc “truyền nghề” cho thế hệ trẻ và tổ chức biểu diễn.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 29/3/2010;

-     Ngành Văn hóa Thông tin sử dụng kết quả nghiên cứu để làm căn cứ đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển đờn ca tài tử trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt là cung cấp tư liệu cho tủ sách địa chí của Thư viện Tây Ninh, Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam;

-     Chuyển giao kết quả cho ngành Du lịch đưa ĐCTT vào các chương trình du lịch văn hóa trong các tour du lịch ở Tây Ninh.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu bảo tồn các loài linh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây NinhNghiên cứu bảo tồn các loài linh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh
Ngày 27/03/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề tài "Nghiên cứu bảo tồn các loài linh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh" do KS. Tạ Ngọc Dân – Ban Quản lý Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát làm chủ nhiệm.

Tham dự phiên họp Hội đồng có ông Nguyễn Minh Hiệp, PGĐ Sở KH&CN Tây Ninh - Chủ tịch Hội đồng; PGS.TS Hoàng Đức Huy – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM và TS. Nguyễn Thị Phương Thảo – Viện Sinh học Nhiệt đới TP.HCM tham gia phản biện, cùng với các thành viên khác đang công tác tại các đơn vị có liên quan.

Với mục tiêu nghiên cứu xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài sinh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát.

Đề tài được Hội đồng xét duyệt thống nhất triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị cơ quan chủ trì hoàn chỉnh lại các nội dung theo góp ý tại cuộc họp và gửi về Sở KH&CN để tiến hành thủ tục theo quy định.

Sở KH & CN

31/03/2015 10:00 SAĐã ban hành
Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây NinhBảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Phan An Cơ quan chủ trì: Hội Dân tộc học Tp. HCM Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 132,905 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Phân loại, đánh giá kho tàng văn hóa truyền thống các dân tộc ít người đã được sưu tầm qua các tư liệu.

-     Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Sưu tầm các dạng thức văn hóa truyền thống hiện đang tồn tại, lưu giữ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh. Tìm hiểu một số vấn đề lịch sử của nhóm Tàmun.

-     Phân loại và hệ thống các di sản văn hóa truyền thống.

-     Thẩm định giá trị các tư liệu văn hóa đã sưu tầm được (có so sánh giữa các địa phương trong tỉnh và ngoài tỉnh).

-     Dựng lại bức tranh toàn cảnh của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.

-     Đề xuất các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Trên lĩnh vực bảo tồn và phát huy văn hóa của các dân tộc ở Tây Ninh, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm, trong đó có truyền thống văn hóa là di sản quý báu của mọi dân tộc và của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam cần được giữ gìn và phát huy. Văn hóa là động lực phát triển đất nước hôm nay và mai sau, xây dựng đất nước phát triển, hiện đại nhưng cần có bản sắc, có giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ.

-     Truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh hết sức đa dạng và phong phú. Đó là những văn hóa thuộc nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, thể hiện qua nhiều lĩnh vực: văn hóa vật thể và phi vật thể, văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa tổ chức - xã hội, văn hóa ứng xử.

-     Từ những di sản nổi trội của người Việt qua chùa miếu và lễ hội Bà Linh Sơn Thánh Mẫu; của người Chăm qua các lễ hội liên quan đến tôn giáo; của người Khmer qua các lễ lớn diễn ra quanh năm trong ngôi chùa Khmer... đến di sản đặc sắc của người Hoa, nổi trội nhất chính là những nét đẹp trong phong tục tập quán, qua ẩm thực, những điệu múa lân, sư, rồng trong những lễ hội ở chùa miếu Hoa.

-     Người Tàmun là tộc danh của một cộng đồng dân cư có tên “Kamuon” là những nhóm thân thuộc của người Chơ ro tách ra hơn một thế kỷ qua; trong quá trình chung sống với người Stieng và Khmer, họ có ảnh hưởng qua lại với hai dân tộc này và cũng có quan hệ hôn nhân diễn ra ngày càng mạnh hơn.

+ Họ theo đạo Cao Đài, tôn giáo này trở thành tôn giáo chính của cộng đồng; một số người cũng đã tham gia chính quyền tại ấp, xã. Xu hướng của họ mong muốn trở thành một tộc người độc lập với tộc danh riêng cũng đã ảnh hưởng và hình thành trong người Tàmun ở Bình Long, Bình Phước. Thông qua đạo Cao Đài cộng đồng người Tàmun đã được thừa nhận công lao không nhỏ trong việc xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh và điều đó đã khiến cho những người trong đạo phải tôn trọng.

-     Truyền thống văn hóa là một thực thể động có sự kế thừa chọn lọc đáp ứng phù hợp thực tế; là kết quả của một quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với cộng đồng các dân tộc cộng cư đến đất Tây Ninh. Họ đã kiến tạo nên đời sống văn hóa, ngược lại văn hóa đã giúp họ trụ vững trước những thử thách để vươn lên và chiến thắng.

-     Văn hóa của các dân tộc thiểu số vừa có nét khác biệt, vừa có sự thống nhất với những nét tương đồng gần gũi nhau từ nếp sinh hoạt đến phong tục tập quán, tín ngưỡng... nhờ vào quá trình cộng cư trãi qua nhiều thế kỷ đoàn kết giúp đỡ nhau để cùng tồn tại và phát triển; đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.

+ Nâng cao ý thức cho người dân, trước hết là bà con dân tộc thiểu số về việc gìn giữ các truyền thống văn hóa của dân tộc mình: do tình trạng nghèo đói khiến không ít bà con chỉ lo cuộc sống vật chất, bươn chải với việc mưu sinh, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị truyền thống văn hóa như một tài sản quý báu của dân tộc, nên họ đã bán những ngôi nhà sàn cổ xưa rất có giá trị văn hóa của mình.

+ Tiếp tục tổ chức các đợt khảo sát, điều tra, sưu tầm các địa phương có đông đồng bào dân tộc để có thể kiểm kê vốn truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Từ đó có chương trình hành động để bảo tồn và phát huy giá trị.

+ Gắn các hoạt động xây dựng văn hóa cơ sở ở địa phương với việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Ninh với các hoạt động du lịch: tùy theo đặc điểm đời sống các vùng dân tộc mà kết hợp gắn các hoạt động sao cho hợp lý; các tuyến du lịch của tỉnh cần có sự kết hợp hướng đến các vùng đồng bào dân tộc, sẽ đem lại lợi ích thu nhập và góp phần bảo tồn, phát huy giá trị.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2634/QĐ-UBND ngày 16/12/2009. Kết quả của đề tài được chuyển giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch; Ban Dân tộc; Ban Tôn Giáo làm tư liệu tham khảo có giá trị về việc nghiên cứu văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh và xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy hoặc bảo tồn và sử dụng bền bững tài nguyên đất ngập nước của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây NinhQuy hoặc bảo tồn và sử dụng bền bững tài nguyên đất ngập nước của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Triết và ThS. Nguyễn Đình Xuân Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2003 - 2004 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 185,0675 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Thống kê tài nguyên đất ngập nước (ĐNN) của Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (VQG). Định hướng quy hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN.

- Đề nghị các vùng đất ngập nước của VQG vào danh sách các vùng đất ngập nước quan trọng trên thế giới nếu hội đủ tiêu chuẩn của Công ước RAMSAR.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các khu vực đất ngập nước bao gồm: xác định thành phần loài, độ phong phú, tính chỉ thị sinh học, mối tương quan với điều kiện môi trường và sự biến động theo mùa; khảo sát môi trường vật lý của đất ngập nước ; các nhóm sinh vật đề nghị khảo sát.

- Phân tích mẫu nước, mẫu đất; các mẫu thành phần sinh vật gồm: phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy, côn trùng nước, thực vật bậc cao, lưỡng cư-bò sát, cá, chim.

- Thành lập bản đồ hiện trạng đất ngập nước VQG tỷ lệ 1/10.000: bản đồ được thành lập bằng cách giải đoán ảnh vệ tinh ASTER của Nhật (độ phân giải 15m x 15m) kết hợp với kiểm tra, xác định ranh giới ngoài thực địa, ảnh vệ tinh ASTER (Nhật) sẽ được cung cấp bởi Trung tâm Xử lý Số liệu Viễn Thám của Nhật (ERSDAC) và ảnh vệ tinh có độ phân giải 2,5 x 2,5 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

- Định hướng quy hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Bản đồ hiện trạng ĐNN VQG tỷ lệ 1/10.000

- ĐNN của VQG chiếm diện tích 4.533 ha, bao gồm 3.295 ha ĐNN tự nhiên và 1.238 ha ĐNN nhân tạo. ĐNN tự nhiên chiếm 17,5% diện tích toàn vườn.

- Hệ thống phân loại ĐNN của VQGLGXM bao gồm 07 lớp và 10 đơn vị. Các lớp ĐNN: ĐNN thuộc sông; ĐNN thuộc suối; ĐNN thuộc trảng; ĐNN thuộc bàu; kênh đào; ruộng lúa nước; ĐNN bồn trũng nhân tạo.

- Chất lượng nước trong các thủy vực ĐNN VQGLGXM hiện tương đối tốt, ngoại trừ vùng kênh Tà Xia và các kênh phía Nam bị ô nhiễm hữu cơ do nước thải nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt; đoạn đầu của suối Đa Ha cũng nhận một tải lượng ô nhiễm khá lớn từ các vùng đất nông nghiệp bên Campuchia.

- Hóa tính nước của các thủy vực thay đổi đáng kể theo mùa. Vào mùa mưa, tình trạng các thủy vực trở nên thuận lợi cho sự phát triển của các sinh vật thủy sinh.

- Ghi nhận 499 loài phiêu sinh thực vật, 75 loài phiêu sinh động vật, 31 loài động vật đáy, 109 loài côn trùng nước, 206 loài thực vật có mạch, 82 loài cá, 15 loài lưỡng cư, 20 loài bò sát và 123 loài chim.

- Nhiều sản phẩm từ ĐNN của VQGLGXM hiện đang được người dân khai thác; một số sản phẩm quan trong như: lá mật cật, cây thuốc, dầu chai, đưng, nhiều loài cá, tôm, cua, bò sát, ếch nhái và chim; các vùng bàu, trảng được dùng làm nơi chăn thả gia súc; nhiều vùng ĐNN bị biến đổi thành đất trồng trọt.

- Các mối đe dọa chủ yếu đến ĐNN của VQGLGXM: tình trạng khô cạn các vùng ĐNN; nguy cơ ô nhiễm nguồn nước; sự khai thác quá mức một số loại tài nguyên; xáo trộn môi trường gây ra do chăn thả gia súc; sự xâm lấn của một số loài cỏ dại môi trường; tình trạng lấn chiếm, biến đổi ĐNN thành đất nông nghiệp.

- Khó khăn trong quản lý ĐNN của VQGLGXM: thiếu thốn nhân lực và hạn chế trong trình độ, chuyên môn liên quan đến quản lý ĐNN; tình trạng khai thác trái phép của người Campuchia, buôn lậu qua biên giới; triển khai các hoạt động du lịch sinh thái.

- Việc quản lý môi trường tự nhiên của đất ngập nước VQG cần tập trung vào các hướng sau: phục hồi thủy chế; kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; quản lý hiệu quả việc khai thác tài nguyên; tăng cường quản lý các hệ sinh thái ĐNN trọng yếu; giám sát và can thiệp sớm sự xâm lấn của các loài sinh vật ngoại lai; xây dựng phương án đầu tư, khai thác tiềm năng du lịch sinh thái (gia tăng thu nhập và thực hiện chức năng giáo dục môi trường của vườn quốc gia.

- Kiến nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo: đánh giá chức năng ĐNN (việc đánh giá sẽ cung cấp những thông tin giúp hiểu biết sâu hơn về vai trò sinh môi của ĐNN trong mối liên hệ với các hệ sinh thái khác, giúp hiểu rõ hơn về giá trị của hệ sinh thái ĐNN); nghiên cứu về tình trạng khô và của lửa rừng đến hệ sinh thái ĐNN của VQGLGXM.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 216/QĐ-UBND ngày 02/10/2006. Kết quả đề tài là cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện các chương trình bảo tồn và phát triển:

+ Nâng cao nhận thức về giá trị đa dạng sinh học, đào tạo cơ bản cho cán bộ, nhân viên VQG, cán bộ địa phương, chiến sĩ biên phòng trong công tác quản lý và nghiên cứu.

+ Tư liệu chính thức làm sách, phim ảnh, ấn phẩm, tờ rơi,... phục vụ tuyên truyền giáo dục môi trường cho hơn 3.000 lượt học sinh, trên 1.000 hộ dân và 300 cán bộ, chiến sĩ biên phòng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vữngNghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vững
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Phát hiện, đánh giá quá trình thoái hóa đất nông nghiệp và đất đô thị (do xói mòn, bạc màu, mất hữu cơ và ô nhiễm). Đề xuất biện pháp ngăn chặn, sử dụng đất hợp lý, bền vững, nâng cao năng suất cây trồng và quyền lợi của người dân nông thôn và vùng ven đô.

Tạo hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ, giúp quản lý, chỉ đạo nhanh, cập nhật và hữu hiệu tài nguyên đất của tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát và thu thập, biên hội tài liệu về hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Biên hội số liệu, lập tiền dữ liệu về tài nguyên môi trường sinh thái đất Tây Ninh.

Điều tra khảo sát quá trình xói mòn đất dốc Tây Ninh trên nhiều loai đất và nhiều độ dốc khác nhau.

Điều tra và khảo sát quá trình bạc màu hóa đất trong hệ sinh thái cây khoai mì, mía, đậu phộng, lúa, vườn cây ăn trái Tây Ninh.

Điều tra và khảo sát quá trình mất chất hữu cơ ở các vùng đất thung lũng ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh rạch, các bưng trũng cục bộ, xung quanh hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá suy thoái đất trên từng vùng sinh thái nông, lâm nghiệp.

Điều tra tập quán, kinh nghiệm sản xuất, vận dụng, kết hợp kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sử dụng đất tối ưu.

Xác định mức độ suy thoái môi trường sinh thái và suy giảm tài nguyên đất bằng, điều tra năng suất, chất lượng cây trồng theo thời gian.

Xác định mức độ nhiễm đất do chất thải đô thị và công nghiệp vùng ngoại thành, vùng xung quanh các khu công nghiệp tỷ lệ bản đồ 1/50.000.

Thiết lập chuỗi số liệu tài nguyên môi trường để diễn tả tốc độ, chiều hướng suy thoái.

Thành lập các bản đồ suy thoái đất.

Phân vùng suy thoái tổng hợp toàn tỉnh trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

Xây dựng phương án khảo nghiệm sử dụng đất tối ưu trên máy tính.

Xây dựng và thử nghiệm phương pháp pilot xói mòn, bạc màu và mất chất hữu cơ tại một số điểm “nóng”.

Đánh giá rủi ro môi trường đất (do ô nhiễm, mất dưỡng chất, sụt lỡ đất, nứt đất).

Xây dựng phương án khảo nghiệm nhanh bằng phương pháp sử dụng đất tối ưu trên thực địa theo từng hệ sinh thái đất, trên cơ sở bài toán kinh tế sinh thái nông nghiệp.

Đề xuất các thông số chỉ thị cho phát triển bền vững hệ sinh thái môi trường đất nông nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài đã điều tra, nghiên cứu xây dựng thành lập bản đồ hiện trạng nhằm đánh giá mức độ suy thoái đất, đề xuất một số vấn đề phục vụ cho việc sử dụng bền vững tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau: Vấn đề xói mòn đất; bạc màu hoa đất; mất chất hữu cơ; chất thải đô thị và công nghiệp ảnh hưởng lên môi trường đất và đề xuất một số kiến nghị cần thực hiện.

+ Mức độ thoái hóa đất được thể hiện ở một số vấn đề: xói mòn đất, bạc màu hóa đất, mất chất hữu cơ, chất thải đô thị và công nghiệp;

+ Quá trình xói mòn diễn ra trên tỉnh Tây Ninh hầu như thấp so với các khu vực khác trong vùng Đông Nam Bộ. Nếu đi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình có xu hướng thấp dần, nên cường độ xói mòn ít dần. Đối với khu vực Núi Bà Đen, địa hình cao, độ dốc lớn, rất dễ xãy ra xói mòn;

+ Tài nguyên đất Tây Ninh phần lớn là nhóm đất xám (chiếm tới 85,65% tổng diện tích đất tự nhiên), nhóm đất này nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ màu kém, hàm lượng mùn, vi sinh vật trong đất thấp. Điều này gây bất lợi lớn đối với cây trồng;

+ Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, ba nhóm đất tập trung khai thác cho sản xuất đất nông nghiệp là: xám - phèn - phù sa.

Một số khu vực có biểu hiện của quá trình bạc màu như: xã Mỏ Công, Trà Vong, Thạnh Bình, Tân Bình (huyện Tân Biên), Thạnh Đông, Tân Hà, Tân Thành, Tân Hòa (huyện Tân Châu), Long Khánh, Long Phước, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Minh, Phước Ninh, Bến Củi (huyện Dương Minh Châu), Ninh Sơn (thị xã Tây Ninh), Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Trường Đông (huyện Hòa Thành).

Hàm lượng nitơ tổng số trong đất ở Tây Ninh là rất thấp cả vào mùa mưa lẫn mùa khô; ở tầng nông, mùa mưa chỉ từ 0,0011- 0,0153% và mùa nắng từ 0,0001- 0,002%, độ phì nhiêu tiềm tàng của đất kém.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất. Đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, độc tính cao, khó phân hủy sinh học, tích lũy trong đất với thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

Biện pháp chống xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác: lĩnh vực nông nghiệp: chọn thời vụ thích hợp, bón phân, phủ đất; lâm nghiệp: trồng rừng trên đồi núi và dọc ven hồ Dầu Tiếng, theo hệ thống kênh rạch Tây Ninh; hóa học kết hợp với sinh học: dùng chất liên kết màng và cây cỏ che phủ mặt đất quanh năm;

+ Thực hiện công tác quy hoạch đưa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra khỏi khu dân cư. Xử phạt nghiêm khắc các cơ sở sản xuất, đơn vị gây ô nhiễm, nhằm ngăn ngừa lây lan chất ô nhiễm từ các hoạt động của đô thị và khu công nghiệp;

+ Duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất; luân xen canh cây hoa màu; làm bờ thửa cho nhóm đất xám trên phù sa cổ; cải tạo nhóm đất phèn; đẩy mạnh công tác xã hội, khuyến nông, sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng.

Các phần mềm cơ sở dữ liệu dễ sử dụng và là công cụ phục vụ quản lý; hệ thống các bản đồ tỷ lệ 1/50.000 về tiềm năng xói mòn, hiện trạng đất bạc màu, hiện trạng mất hữu cơ, chất lượng môi trường đất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu đã đóng gop vào cơ sở dữ liệu về đất ở Tây Ninh phục vụ các nghiên cứu có liên quan như: đánh giá các quá trình suy thoái tài nguyên môi trường đất nông nghiệp; định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công  nhận sáng kiến cấp tỉnhCông  nhận sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Theo đó, có 4 đề tài được xét đặc cách và 43 sáng kiến được công nhận (03 sáng kiến được xếp loại A, 33 sáng kiến được xếp loại B và 07 sáng kiến được xếp loại C). Đây cũng là điều kiện để xét công nhận đạt danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh".

Danh sách công nhận sáng kiến kèm theodanhsachcongnhansangkienct.rar

                                                                                        KGVX

04/04/2017 8:00 SAĐã ban hành
Điều tra tình hình bệnh nhiễm bụi silic đối với công nhân khai thác, chế biến đá khu vực núi Bà đen Tây NinhĐiều tra tình hình bệnh nhiễm bụi silic đối với công nhân khai thác, chế biến đá khu vực núi Bà đen Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: BS.CKI. Nguyễn Lưu Y và ThS. Trịnh Hồng Lân Cơ quan chủ trì: Trung tâm Y Tế dự phòng Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 135,69 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Xác định hàm lượng bụi toàn phần, hàm lượng bụi hô hấp; hàm lượng Silic (SiO2) tự do có trong bụi toàn phần và bụi hô hấp; các thể bệnh bụi phổi Silic; tỷ lệ bệnh bụi phổi Silic giữa công nhân trực tiếp và gián tiếp; tỷ lệ bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp có liên quan.

-  Đề xuất phương pháp phòng hộ tốt nhất.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Điều tra phỏng vấn thu thập thông tin 10 doanh nghiệp.

-  Điều tra phỏng vấn thu thập thông tin 500 công nhân khai thác chế biến đá theo 5 nhóm đối tượng.

-  Đo các chỉ tiêu: bụi tổng cộng, bụi hô hấp và phân tích hàm lượng SiO2 tự do.

-  Đo chức năng hô hấp (thể tích phổi) ở 5 nhóm tuổi nghề.

-  Chụp X quang phổi ở 5 nhóm tuổi nghề.

-  Khám sức khỏe tổng quát, phân loại sức khỏe.

-  Thống kê, phân tích, đánh giá mức độ bệnh bụi phổi theo hướng dẫn của tổ chức lao động quốc tế - ILO.

-  Chuẩn đoán phân biệt với các bệnh khác: Bệnh lao, bệnh haemosidorosis nội sinh, bệnh sarcoidosis, thể di căn ung thư phổi, xơ hóa phổi kẽ tự phát, các bệnh tạo keo như: bệnh cứng bì (scleroderma), viêm khớp dạng cấp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Trong phương pháp nghiên cứu lấy mẫu là 317 công nhân và 10 doanh nghiệp; những kết quả khảo sát thông qua thu thập thông tin và phỏng vấn trực tiếp:

+ Nam chiếm đa số 96,2% so với nữ có 3,8%; dân tộc kinh chiếm 96,9%, còn lại là các dân tộc khác; trình độ văn hoá cấp II trở lên chiếm 30,2%, cấp II trở xuống chiếm 69,8%;

+ Tuổi đời 30 tuổi trở lên chiếm 63,72%, dưới 30 tuổi chiếm 36,28%; những công nhân có tuổi nghề trên 20 năm rất thấp 3,78%, tuồi nghề từ 1- 5 năm chiếm 70,34%;

+ Tình trạng sức khỏe cá nhân trong năm rất tốt không có gì để làm ảnh hưởng đến công tác; chế độ làm việc theo ca rất ít, phần lớn làm việc thời gian tự do chiếm 93,4%; tỉ lệ công nhân được phục vụ y tế thấp (công nhân được khám tại các trạm y tế cơ sở chiếm 35,65%; được khám sức khỏe định kỳ chiếm 62,15%).

- Các dữ liệu khoa học về nồng độ bụi toàn phần, nồng độ bụi hô hấp; hàm lượng Silic (SiO2) tự do có trong bụi toàn phần và bụi hô hấp tại núi Bà Tây Ninh; các trường hợp bị suy giảm chức năng hô hấp; các thể bệnh bụi phổi Silic; các bệnh khác có liên quan đến bệnh bụi phổi.

+ Nồng độ bụi toàn phần trung bình tại các công đoạn sản xuất cao ở cả hai mùa mưa và nắng hầu hết điều vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) từ 1,5 lần trở lên. Riêng tại công ty 48 nồng độ bụi toàn phần tại khâu khoan đá 22,3 mg/m3 cao gấp 3,71 lần TCVSCP.

+ Nồng độ bụi hô hấp ở nhiều công đoạn sản xuất cũng rất cao ở cả hai mùa mưa nắng, trung bình 16,49 mg/m3 vượt TCVSCP gấp 4,12 lần.

+ Hàm lượng Silic tự do (SiO2) có trong bụi toàn phần có khoảng cách rõ rệt ở 2 loại đá ngầm và đá lộ thiên: ở các mỏ khai thác đá ngầm hàm lượng Silic tự do từ 10,73% đến 13,10%; đối với mỏ khai thác đá lộ thiên từ 19,7% đến 21,9% (Công ty Vật liệu xây dựng Tây Ninh, Công ty 48).

+ Qua chụp X quang phổi thẳng, các thể bệnh bụi phổi silic nhiều nhất là thể 0/1 p/p 35 người chiếm 11%; thể 1/0 p/p 14 người chiếm tỉ lệ 4,4%; thể 1/0 q/p 3 người chiếm 0,9%; thể 1/1/ p/p 2 người chiếm 0,6%; thể 1/0 q/q 2 người chiếm 0,6%; các thể khác ½ p/p 1 người chiếm 0,3%; 1/0 p/q chiếm 0,3%; 1/1 q/q chiếm 0,3%.

+ Tỉ lệ bệnh bụi phổi chung các thể là 18,1%: có 16,72% công nhân có biểu hiện rối loạn thông khí phổi, trong đó phần lớn là rối loạn thông khí hội chứng hạn chế 39 người chiếm 12,22%; có 107/317 người có các triệu chứng viêm phế quản mãn tính (ho, khạc đờm kéo dài, tức ngực, khó thở...) chiếm 29,3%, số công nhân làm việc gián tiếp 14 người chiếm 4,4%.

-  Báo cáo phân tích xác định nguyên nhân phát sinh bụi; đối tượng nguy cơ nhiễm bệnh; đề xuất biện pháp dự phòng phù hợp nhất và hướng điều trị phục hồi cho người bệnh.

+ Định kỳ thường xuyên tự kiểm tra giám sát mức độ bụi phát tán và biện pháp ngăn chặn kịp thời tại chổ; bổ sung, thay mới hoặc cải tạo các máy móc thiết bị cũ lạc hậu gây ra nhiều bụi, tiếng ồn; sử dụng đầy đủ, đúng phương pháp các trang bị bảo hộ lao động theo hướng dẫn của doanh nghiệp và các cơ quan chức năng để phòng chống bụi silic.

+ Hướng dẫn điều trị phục hồi chức năng hô hấp cho người bệnh bụi phổi silic; hỗ trợ các doanh nghiệp tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chóng nhiễm bụi silic cho cán bộ và công nhân lao động tại các doanh nghiệp.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 20/7/2006. Kết quả nghiên cứu được các cơ sở y tế của tỉnh ứng dụng trong xây dựng kế hoạch, giáo dục sức khỏe, đề xuất biện pháp giám sát, kiểm tra phòng chống bụi cho các doanh nghiệp và công nhân lao động trong môi trường có nhiễm bụi.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuậtGiám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài bên công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Tại Ðại hội Công đoàn Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017- 2022, có một cá nhân được Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng lao động sáng tạo trong phong trào thi đua yêu nước năm 2016. 

Trước đó, ông đã được Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tặng Bằng khen “Ðã có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến, sáng tạo, cải tiến khoa học kỹ thuật trong đơn vị góp phần xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ngày càng vững mạnh”. Người được vinh dự đón nhận Bằng lao động sáng tạo và bằng khen vừa nêu là kỹ sư Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi (thuộc Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh). 

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

“Biến” xe chở mủ thành xe chữa cháy

“Phương án lắp đặt đơn giản, chi phí thấp, tính ứng phó kịp thời tại chỗ, tính phổ dụng xã hội hoá cao, nâng cao hiệu quả phòng - chữa cháy” là kết quả ứng dụng công trình của kỹ sư Tài. Ông cho biết, Nông trường cao su Bến Củi quản lý 2.270 ha cao su. Mùa khô cũng là mùa cao su thay lá. Toàn bộ lá trên cây rụng xuống đất thành một lớp khá dày, rất dễ cháy.

Ngoài ra, hằng năm, nông trường thanh lý từ 150 ha đến 200 ha cây cao su trong mùa khô; các cành lá sau khi cưa cắt để lại rất dễ cháy và lây lan đến các vườn cây xung quanh. Thực tế tại nông trường đã xảy ra hai vụ cháy trong quá trình thanh lý vườn cây. Vào mùa khô, nông trường đều lập kế hoạch và phương án phòng cháy, chữa cháy (PCCC), huy động nhiều công nhân cho công tác PCCC, nhưng phương tiện chữa cháy rất thô sơ.

Trước thực trạng đó, kỹ sư Tài băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi giải pháp chữa cháy tại chỗ đạt hiệu quả cao. Từ phương tiện sẵn có của nông trường là xe vận chuyển mủ có 3 tank (3 bồn chứa mủ), máy bơm dùng bơm mủ lên tank, kỹ sư Tài nảy sinh ý tưởng chuyển công năng sử dụng từ bồn vận chuyển mủ thành bồn chứa nước và máy bơm mủ thành máy tạo áp lực cho vòi rồng thực hiện việc chữa cháy. Khi mùa khai thác mủ kết thúc, cũng là mùa cao su bắt đầu thay lá, cây ngưng cạo, khi đó bồn chứa mủ, máy bơm mủ được dùng cho xe PCCC.

Kết quả thử nghiệm cho thấy, tất cả các phương tiện được lắp đặt hệ thống chữa cháy do ông Tài thiết kế đều có khả năng di chuyển, tiếp cận điểm cháy với phạm vi hoạt động không hạn chế. Ðộ phun xa của đầu rồng phụ thuộc vào công suất của máy bơm (máy bơm 5 CV phun xa 30m, máy bơm 9 CV phun xa 50m). Thời gian hoạt động phun chữa cháy của mỗi xe chứa 3 bồn nước là 30 phút. Ðể có nguồn nước cung cấp cho công tác chữa cháy, nông trường bố trí các giếng khoan phân bố đều trong vườn cây cao su.

Sau khi thử nghiệm, xe chữa cháy tự chế của kỹ sư Tài đáp ứng đầy đủ tính năng theo yêu cầu của cơ quan PCCC. Ðặc biệt là tổng chi phí cải tiến xe chở mủ thành xe PCCC chỉ 9,5 triệu đồng, giảm chi phí đầu tư trang bị xe chữa cháy chuyên dùng đến 800 triệu đồng/xe. Có xe chữa cháy này, nông trường tiết kiệm rất đáng kể trong việc bố trí công nhân trực chống cháy cho toàn bộ diện tích vườn cây.

Theo kỹ sư Tài, không chỉ đối với vườn cao su, mà đối với vùng trồng mía, từ phương tiện máy móc sẵn có, các chủ trang trại có thể tự lắp đặt máy chữa cháy theo thiết kế của ông. Ðối với các khu bảo tồn, rừng phòng hộ, khu di tích, kể cả khu dân cư đô thị cũng có thể trang bị máy chữa cháy này.

“Cây” sáng kiến của ngành cao su

Trước đó, ông Tài đã có nhiều công trình sáng kiến cải tiến kỹ thuật khác, đáng lưu ý như: kỹ thuật tạo tán vườn cây kiến thiết cơ bản; công cụ xử lý cây nghiêng trên vườn cây kinh doanh; công cụ khai thác vườn cây tận thu; sử dụng máy bón phân thay thế bón phân thủ công trên vườn cây kiến thiết cơ bản.

Về kỹ thuật tạo tán, kỹ sư Tài cho biết, nhằm khống chế ưu thế về ngọn của vườn cây kiến thiết cơ bản dòng vô tính (phân cành cao dễ ngã đổ), qua quá trình quản lý, nghiên cứu, tìm tòi phân tích đặc tính hình thái của cây cao su, vào năm 2006, ông đưa ra phương pháp cắt ngọn tạo tán cho giai đoạn kiến thiết cơ bản đối với vườn cây năm thứ 2, thứ 3.

Nhờ có kỹ thuật tạo tán, cây phân cành hợp lý, thân cây phát triển đồng đều, thúc đẩy độ tăng nhanh quành tròn thân cây, bảo đảm mật độ vườn cây, hạn chế gãy đổ do gió. Cũng từ đó, người trồng cao su rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản của cây từ 6 tháng đến một năm (so với trước khi chưa có kỹ thuật tạo tán). Công trình này đã được áp dụng cho toàn ngành cao su.

Theo kỹ sư Tài, đây là công trình vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật cao, để nâng cao chất lượng vườn cây, tạo tiềm năng năng suất cho thời kỳ kinh doanh.

Hằng năm vào mùa mưa bão, giông lốc, nỗi lo vườn cây cao su kinh doanh bị gãy đổ luôn là vấn đề nhức nhối của người trồng cao su, nhất là trên dòng vô tính RRIV4. Ðể xử lý cây nghiêng, có nguy cơ gãy đổ trên vườn cây nhóm 1 đang khai thác, trước kia, nông trường cho người leo lên cây chặt tỉa nhánh. Công việc này không bảo đảm an toàn lao động, năng suất thấp, hiệu quả không cao (không mé được những nhánh trên ngọn cao). Sau đó, nông trường dùng xe chuyên dụng đưa người và máy cưa lên cao để xử lý; cách làm này quá tốn kém và năng suất cũng thấp.

Từ thực trạng đó, năm 2012, kỹ sư Tài nghĩ ra cách dùng lưỡi câu liêm nối cán dài để tỉa cành cây nghiêng. Cách làm này bảo đảm an toàn lao động, vừa nâng cao năng suất mà chi phí rất thấp, dễ thực hiện, hiệu quả cao. Phương pháp này được đưa sang Lào áp dụng xử lý hàng ngàn ha cao su bị gió lốc nghiêng ngả.

Trước đây, để khai thác tận thu trên vườn cây cao su chuẩn bị thanh lý, công nhân phải bắc thang (hoặc ghế cao) để cạo, vừa không an toàn mà năng suất thấp. Sau đó, nông trường cải tiến bước đầu là dùng cây tầm vông dài nối làm cán dao cạo.

Cách làm này cũng có hiệu quả, nhưng không linh hoạt theo chiều cao cạo miệng, hạn chế năng suất lao động và cũng không khai thác hết tiềm năng năng suất vườn cây chuẩn bị thanh lý. Năm 2010, kỹ sư Tài tạo ra dụng cụ khai thác vườn cây tận thu tiên tiến và hiệu quả hơn. Ðó là dùng cán dao kim loại có 3 đoạn nối nhau bằng chốt khoá, để người công nhân linh hoạt khai thác ở nhiều độ cao khác nhau.

Ðồng thời, cán dao 3 đoạn này cũng tương thích với 3 công dụng khác nhau: lắp đặt vào lưỡi dao cạo; lắp đặt vào dụng cụ bấm máng và dụng cụ bôi kích thích. Nhờ sử dụng công cụ trên, công nhân khai thác hết tiềm năng năng suất cây chuẩn bị thanh lý. Cụ thể, trước đây chỉ khai thác được 1,6 tấn/ha, nay đã nâng lên được 2 tấn/ha. Bộ công cụ này nay đã được áp dụng rộng rãi trong ngành cao su.

 Ngày trước, việc bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản theo phương pháp thủ công. Do vườn cây rộng lớn, nên hằng năm đến mùa vụ bón phân đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn nhân lực. Cách bón thủ công còn nhiều hạn chế về kỹ thuật, năng suất lao động thấp, cần nhiều lao động và tính hại cao (do công nhân tiếp xúc trực tiếp với phân bón).

Do vậy, kỹ sư Tài đã nỗ lực cải tiến thành công máy bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản và đưa vào sử dụng. Ðây là máy tự hành (tự trộn, tự rạch hàng, tự bón, tự lấp đất), với những ưu điểm thấy rõ: năng suất cao (20 ha/ngày/máy), đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật, giảm độc hại, giảm chi phí thuê công nhân (một máy thay thế 20 công nhân bón phân thủ công) và dễ quản lý, kiểm soát.

Qua nhiều năm trải nghiệm trong ngành, kỹ sư Nguyễn Văn Tài đã tự nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi để có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây, giảm thâm dụng lao động, ứng phó hiệu quả với tình hình giá cao su giảm sâu và khủng hoảng thiếu lao động như hiện nay.

Kỹ sư Tài tâm sự: “Khi một sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được tạo ra mà tác giả cố giữ bí mật chỉ để làm lợi riêng cho mình thì hiệu quả mang lại sẽ hạn chế. Do đó, sáng kiến chỉ có giá trị khi được nhân rộng”. Chính vì vậy, ông rất vui khi những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của mình được phổ biến khắp nơi.

Theo Báo Tây Ninh Online

11/09/2017 9:00 SAĐã ban hành
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Khảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lýKhảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lý
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Ngọc Hòa Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện là: 155,1 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Nghiên cứu các lễ hội ở Tây Ninh để tìm ra được các giá trị văn hóa, trên cơ sở đó có kế hoạch bảo tồn, phát triển phù hợp văn hóa dân tộc và tập tục địa phương; góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho thế hệ trẻ.

-     Đề xuất các giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Cơ sở lý luận về lễ hội (khái niệm, phân loại, giá trị....)

-     Lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Tây Ninh

-     Các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh

-     Giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (giá trị tâm linh, giá trị nghệ thuật, trò chơi dân gian, giá trị thẩm mỹ ứng xử - nối kết cộng đồng, giá trị giáo dục truyền thống; các mặt còn hạn chế của lễ hội Tây Ninh).

-     Các định hướng, giải pháp bảo tồn, phát huy và quản lý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Hệ thống lễ hội Tây Ninh có thể chia thành 3 dạng: lễ hội dân gian (lễ hội dân gian Việt, lễ hội dân tộc ít người), lễ hội tôn giáo (lễ hội đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo), và lễ hội lịch sử cách mạng.

+ Lễ hội dân gian Việt: Tây Ninh có 78 đình, dinh, đèn, miếu và điện đang hoạt động với chu kỳ hàng năm tập trung vào lễ hội chính là Kỳ Yên (thường vào tháng Giêng, 2, 3, 4, 6, 8, 11 và tháng Chạp âm lịch); ngoài lễ chính, còn tổ chức các lễ phụ (Cầu bông, Khai hạ, Tống ôn, Niêm ấn);

+ Lễ hội dân tộc ít người: dân tộc Khmer có 3 lễ hội (Chol Thmây, Đôn ta, Ok-Oom-Bok); dân tộc Chăm (Ramadan, Haji, Maulua); dân tộc Tà Mun (Samco, Donta); người Hoa (lễ vía Quan Thánh Đế Quân, Vía Thiên Hậu Thánh Mẫu);

+ Lễ hội đạo Cao Đài: lễ Vía Đức Chí Tôn, lễ Thượng ngươn, Hội Yến Diêu Trì; Phật giáo (lễ hội Phật Đản và Vu Lan); Thiên chúa giáo (lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh);

+ Lễ hội lịch sử cách mạng: với trên 300 di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng, trong đó có những di tích mang tầm quốc gia (Trung ương Cục, Ban An ninh Miền, Căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam, Căn cứ mặt trận giải phóng Miền Nam, Căn cứ Tua Hai Đồng Khởi); lễ hội xuân Núi Bà Đen được tổ chức vào dịp lễ tết cổ truyền dân tộc hàng năm.

-     Đề tài đã khảo cứu khoảng 18 lễ hội ở Tây Ninh, những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay.

+ Ở Tây Ninh có khoảng 18 lễ hội: lễ hội Đình (lễ Kỳ Yên), hội Quan lớn Trà Vong, Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, tôn giáo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo, dân tộc Khmer, dân tộc Chăm, dân tộc Tà Mun, dân tộc Hoa, làng nghề truyền thống, tín ngưỡng dân gian (lễ Miếu Bà), hội xuân Núi Bà, giao thừa, truyền thống cách mạng Động Kim Quang, chiến thắng Tua Hai, mừng 30/4 đại thắng, Rừng Rong.

+ Những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay: giá trị cố kết cộng đồng; giá trị hướng về nguồn (nguồn cội tự nhiên và xã hội); giá trị cân bằng đời sống tâm linh; giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa; giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

-     Thực trạng quản lý lễ hội Tây Ninh trong những năm qua: một số đình, đền, dinh... hiện nay ở Tây Ninh, khi tế lễ lại tạm mượn nhạc lễ của tôn giáo Cao Đài, một số nơi chuyển hẳn từ vật tế lễ mặn thành vật tế lễ chay, thập bát ban võ nghệ để thờ tự thành câu đối của Cao Đài (màu sắc của lễ hội truyền thống dân gian đã nhuốm màu sắc tôn giáo).

-     Đã là lễ hội bao giờ cũng có hai phần “lễ và hội” cộng hưởng với nhau tạo thành diện mạo trang nghiêm và hấp dẫn của một lễ hội. Qua khảo sát của Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, ở nhiều nơi phần lễ còn quá đơn giản, chưa tạo được ấn tượng tôn vinh các vị tiền bối có công với nước.

-     Đề xuất giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

+ Cần sưu tầm lại để phục hồi đúng bài bản gốc phần “lễ và hội”, có sự định hướng tăng cường phần thu hút quần chúng; lễ hội đáp ứng được mục đích giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc; việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội dân gian gắn với du lịch văn hóa - du lịch lễ hội;

+ Tổ chức đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội trên cả 3 mặt: hành chánh pháp chế (quản lý về luật pháp, tổ chức quy hoạch, chế độ chính sách liên quan đến lễ hội); nghiệp vụ chuyên môn (các hoạt động tác nghiệp giữ gìn và phát huy các lễ hội); kinh tế (quản lý chặt chẽ và có kế hoạch chủ động điều tiết các nguồn thu chi);

+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hệ thống hóa và phổ biến những thông tin về di sản văn hóa phi vật thể - lễ hội; rà soát và hệ thống các văn bản pháp luật về lễ hội đang hiện hành để phổ biến cho cơ sở; tổ chức tập huấn cho cán bộ văn hóa các cấp; in sách giới thiệu các lễ hội ở Tây Ninh, những quy định về quản lý lễ hội... phổ biến cho người dân, cho khách du lịch, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 15/02/2012. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh để triển khai ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Thị Thu Hiền Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: năm 2007 Kinh phí thực hiện: 311,066 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh. Phân tích những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân.

Đề ra biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu, phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khoa học về xây dựng tổ chức cơ sở đảng nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở trong toàn tỉnh đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới hiện nay.

-  Làm rõ tính cấp bách, cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân và xác định phương hướng, đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên của tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tính đến 30/9/2006, toàn tỉnh có 599 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 434 chi bộ cơ sở và 165 đảng bộ cơ sở, với 2 đảng bộ bộ phận, 1.450 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; với tổng số đảng viên là 20.561 đảng viên, chiếm tỉ lệ 1,91% so dân số trong tỉnh, trong đó đảng viên có tôn giáo là 1.430 người, chiếm 9,95% tổng số đảng viên toàn tỉnh, đảng viên là dân tộc ít người: 84 người, chiếm 0,41% tổng số đảng viên toàn tỉnh.

+ Kết quả khảo sát điều tra tình hình thực tế ở 596 tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh: hầu hết các tổ chức cơ sở đảng sau mỗi lần đại hội Đảng đều rà soát, bổ sung và xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy và của từng cá nhân Bí thư, Phó Bí thư và ủy viên cấp ủy

+ Năm 2003 có 503/558 (90,41%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 184/503 (36,58%) và 1088/1.197 (90,89%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2004 có 493/563 (87,57%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 94/493 (19,06%) và 1.173/1.285 (91,28%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2005, có 522/577 (90,47%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 146/522 (27,96%) và 1.269/1.365 (92,96%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh. So với năm 2003, cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng 0.32%.

+ Mặt yếu kém: một số cấp ủy tuy có xây dựng quy chế nhưng trong quá trình thực hiện không theo quy chế làm việc; lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cấp ủy chưa thật sự đổi mới, nội dung còn chung chung, hiệu quả không cao, việc phê bình và tự phê bình còn yếu.

-  Chất lượng đội ngũ đảng viên tăng qua các năm: năm 2001(15.878 đảng viên); 2002 (16.929 đảng viên); 2003 (17.909 đảng viên); 2004 (18.939 đảng viên); 2005 (19.840 đảng viên); 2006 (20.561 đảng viên). Tăng bình quân mỗi năm là 5,02%.

+ Các cấp ủy tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đảng viên gắn với việc xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, quản lý, phân công cụ thể cho từng đảng viên được thực hiện tốt.

+ Mặt hạn chế: Một bộ phận đảng viên còn thụ động, tinh thần đấu tranh xây dựng chưa cao, còn thờ ơ thiếu trách nhiệm, chưa gương mẫu trong nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ năng lực. Năm 2005, khi đánh giá chất lượng đảng viên, có 352/5.542 đảng viên đủ tư cách nhưng có mặt hạn chế chiếm 6,35%, đảng viên vi phạm tư cách chiếm 0,9% (167/18.456 đảng viên).

-  Nguyên nhân mặt làm được: Đảng đề ra nghị quyết về đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các cấp ủy Đảng cấp trên cơ sở đề ra hướng dẫn các tiêu chuẩn xây dựng chi, đảng bộ và cụ thể thành biểu điểm thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ chủ chốt đã xác định đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình và của tổ chức đảng; Trung ương ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định đúng đắn.

-  Nguyên nhân của mặt yếu kém: một số cấp ủy các cấp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng ở cơ sở, chưa chỉ đạo chặt chẽ việc đánh giá đúng chất lượng; một số cấp ủy chưa đổi mới cách thức chỉ đạo đối với cơ sở, hội họp nhiều, chất lượng hội nghị không cao, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức cơ sở đảng; công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật của một số tổ chức đảng chưa nghiêm, chưa có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết.

-  Đề án đã làm rõ được mục tiêu và nhiệm vụ cần nghiên cứu, lý giải tính cấp bách phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh Tây Ninh trước nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-  Đề án nêu lên một số giải pháp góp phần vào sự lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn tỉnh, nhằm phấn đấu thực hiện hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 24/8/2007. Kết quả đề án làm cơ sở cho Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong tỉnh Tây Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ caoNâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…


 

Các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt đã cho hiệu quả cao

Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…

 Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có 29 khu nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xây dựng và đưa vào quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố, qua đó đã hình thành một số mô hình phát triển NNCNC, làm tiền đề cho việc phát triển các vùng NNCNC như mô hình sản xuất rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại TP.HCM, Bắc Ninh, Lâm Đồng; mô hình sản xuất nấm quy mô trang trại tại Vĩnh Phúc…. Ngoài ra, đã hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất, chế biến các sản phẩm từ sữa tại Hà Nội, Nghệ An, TP.HCM; vùng trồng chè theo công nghệ của Đài Loan tại Thái Nguyên, Lâm Đồng…. Cùng với đó là hàng loạt công nghệ mới như tạo giống, nhà kính, nhà lưới, vườn ươm, kho mát bảo quản, đóng gói rau, hoa trình độ cao với phương thức, kỹ thuật và quy trình sản xuất đồng bộ giúp nâng cao năng suất, ổn định giá thành và chất lượng sản phẩm; giá trị sản xuất đạt 500 triệu - 1 tỷ đồng/ha.…

 Cụ thể như tại TP.HCM, Công ty liên doanh Hạt giống Đông Tây đã đầu tư được trại sản xuất hạt giống rau F1 đạt tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Còn tại tỉnh Lâm Đồng, đến hết năm 2013 đã có gần 35 nghìn ha đất sản xuất NNCNC với giá trị sản xuất rau cao cấp đạt bình quân 400 triệu đồng/ha; hoa cao cấp đạt 800 triệu - 1 tỷ đồng/ha, đặc biệt là các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt cho hiệu quả cao. Tại tỉnh Sơn La, dự án khu NNCNC cũng đã được triển khai xây dựng tại huyện Mộc Châu với quy mô 200ha, áp dụng các công nghệ tiên tiến như trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh; trồng một số loại rau, hoa nhập ngoại và canh tác trên đất có phủ màng hoặc trên giá thể không đất; công nghệ nuôi cấy mô cho rau, hoa lily, hoa lan. Hàng loạt các quy trình như sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, thiết bị tưới phun, tưới nhỏ giọt, điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, chất dinh dưỡng, nước… đều đã được đầu tư đồng bộ, tự động hóa.…

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp nông thôn - Ban Kinh tế Trung ương nhận định: Những kết quả nghiên cứu, đầu tư ứng dụng công nghệ cao đã có đóng góp quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng nông nghiệp cho Việt Nam trong một vài năm qua. Tuy nhiên, hoạt động của các khu NNCNC còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung; cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao. “Bên cạnh đó, việc lựa chọn mô hình, sản phẩm, công nghệ để sản xuất chưa phù hợp; chi phí vận hành quá cao dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Một số khu NNCNC ở Hải Phòng, Hà Nội… được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài nhưng chưa được thành công như mong muốn” - ông Tiến nói.

Do vậy, cùng với việc tổ chức bài bản, khoa học để sản xuất NNCNC từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tới đây, các địa phương, doanh nghiệp cần xem xét đầu tư hợp lý để không chỉ ứng dụng được công nghệ tiên tiến vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp của địa phương mà còn có thể phát huy được những thế mạnh về tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên sẵn có.

Một vấn đề khác được đặt ra là bảo vệ bản quyền giống trong quá trình triển khai NNCNC, bởi theo ông Nguyễn Văn Bảo - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Agrivina: Mặc dù Việt Nam đã là thành viên của Hiệp hội Quốc tế bảo vệ bản quyền giống cây trồng mới (UPOV) từ năm 2006, nhưng đến nay việc bảo vệ bản quyền vẫn không được thực hiện nghiêm túc. Ông Bảo cho biết: Hiện một số doanh nghiệp và nhất là các hộ nông dân tại tỉnh Lâm Đồng sử dụng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc, xuất xứ; tùy tiện nhân giống dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, đồng thời làm ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, lai tạo và sản xuất các loại giống rau, hoa mới của doanh nghiệp.…

 Trong thời gian tới, phát triển NNCNC cần tập trung vào các mục tiêu trọng tâm như: Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi; phát triển số lượng doanh nghiệp và cung ứng dịch vụ NNCNC, đặc biệt là tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp NNCNC.

Mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015, theo ông Nguyễn Tấn Hinh - Vụ phó Vụ Khoa học công nghệ và môi trường - Bộ NN&PTNT, là sẽ từng bước xây dựng và hình thành cho được nền NNCNC, trong đó, trọng tâm là phát triển số doanh nghiệp NNCNC và vùng sản xuất, phấn đấu đến năm 2015, mỗi tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm sẽ xây dựng được từ 3-5 doanh nghiệp, 2-3 vùng sản xuất NNCNC, qua đó từng bước sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; nâng tỷ trọng giá trị sản xuất NNCNC chiếm từ 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước.

                                                                                                 Báo Công Thương

05/08/2014 5:00 CHĐã ban hành
Điều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa MátĐiều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Ngọc Long và KS. Lý Văn Trợ Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 458,26 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao và các loài thực vật bậc thấp có ý nghĩa khoa học và kinh tế hiện diện trong khu Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát (VQG) cùng với tình trạng phân bố của chúng.

-     Xác định được các quần thể động vật quan trọng tại VQG, mức độ phổ biến và tình trạng nguy cấp, nơi phân bố của chúng.

-     Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên động, thực vật.

-     Lập bản đồ thảm thực vật.

-     Thu thập và bảo quản một số mẫu vật tiêu biểu cho các loài động vật: thú nhỏ, bò sát, cá, chim, côn trùng; thực vật bậc thấp, bậc cao và cây thuốc quan trọng tại VQG tạo cơ sở cần thiết cho các bước nghiên cứu quy hoạch và phát triển Vườn quốc gia sau này.

-     Đề xuất các biện pháp bảo tồn động, thực vật phù hợp.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật bậc cao, thấp.

-     Nghiên cứu về tài nguyên động vật trên cạn và thủy sinh vật.

-     Nghiên cứu, mô tả các vùng sinh thái cảnh quan tiêu biểu, đánh giá tài nguyên về tiềm năng du lịch sinh thái.

-     Xác định vùng phân bố, tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp.

-     Phân vùng chức năng.

-     Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội và môi trường vùng VQG.

-     Ứng dụng công nghệ xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng ngân hàng dữ liệu và hoàn chỉnh các loại sơ đồ bản đồ tỷ lệ 1/25.000.

-     Xác định tác động, mối liên quan giữa khu bảo tồn nghiêm ngặt (vùng lõi) với khu hệ đệm, đề xuất mô hình thích hợp phát triển khu đệm theo hướng đáp ứng mục tiêu bảo tồn khu bảo vệ nghiêm ngặt và các khu bảo vệ chuyên biệt.

-     Phát thảo hoàn chỉnh một số đề án bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư trong nước và quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Đề tài đã tạo ra được bộ tiêu bản động vật, côn trùng và thực vật; Bản đồ hệ thống dữ liệu thông tin địa lý (GIS).

-     Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát có đặc tính ngập nước cục bộ là một khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng thềm bậc cao Đông Nam bộ và đồng bằng thấp trũng lưu vực sông Mê Kông; đất phù sa cổ chiếm phần lớn diện tích của Vườn có thành phần cơ giới đất cát pha đến đất thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém.

-     Nguyên nhân không giữ được nước của đất rừng trong mùa khô mà sự bốc hơi nước quá chênh lệch giữa hai mùa, chỉ có những loài nào có cấu tạo thích nghi được trở nên tồn tại và phát triển (giải thích tại sao rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát cùng tồn tại kiểu rừng nhiệt đới gió mùa và kiểu rừng thưa rụng lá).

-     Hệ thực vật rừng VQG đã tổng kết được khoảng 700 loài với đại diện của 5 ngành thực vật, 60 bộ, 116 họ và 396 chi. Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) là nơi tập trung của nhiều loài thực vật nhất (chiếm 97.1%/tổng số loài thực vật).

-     Dựa vào điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý và khí hậu, thành phần cơ giới của đất, độ ẩm và tốc độ bay hơi nước, rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát đã tồn tại các kiểu thảm rừng khác nhau đan xen nhau theo thể khảm.

-     Có 6 kiểu rừng tiêu biểu cho VQG: kiểu rừng đất ngập nước theo mùa, kiểu rừng thưa thứ sinh, khô, nhiệt đới gió mùa, thưa rụng lá, rừng nguyên sinh. Ở các kiểu rừng này là nơi sinh sống của nhiều loài khác nhau, liên quan đến sự đa dạng sinh vật.

-     Tài nguyên cây thuốc của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát khá phong phú và đa dạng không chỉ về thành phần loài (179 loài) mà cả về công dụng. Một số loài cây thuốc sau đây rất được ưa chuộng và khai thác nhiều: đậu xương, sưng đừng, dây linh, dây nắp ấm, sám lộc, huyết rồng máu, hoàng đằng, lạc tiên, bồ húc, mướp khai.

-     Đã ghi nhận được 149 loài Chim thuộc 15 bộ và 40 họ (có 3 loài quí hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam: Gà lôi hông tía Laphura diardi, Gà đẫy Java Leptotilos javanicus, Hạc cổ trắng Ciconia episcopus).

-     Nhóm ếch nhái gồm 23 loài thuộc 2 bộ, 6 họ và 15 giống (bằng 13,2% loài ếch nhái so với cả nước).

-     Bò sát gồm 56 loài (15 họ và 40 giống) thuộc 2 bộ, trong đó có 18 loài bò sát quí hiếm.

-     Khu hệ cá VQG mang tính đặc trưng của vùng trung lưu và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ, 10 bộ (77/88 loài cá có giá trị kinh tế , 5/88 loài cá có tên trong sách đỏ Việt Nam).

-     Ghi nhận được 29 loài thú của 7 bộ: bộ ăn sâu bọ, bộ dơi, bộ linh trưởng, bộ móng guốc chẵn, bộ ăn thịt, bộ gặm nhấm, bộ thỏ.

-     Hệ Côn trùng ghi nhận được 128 taxa côn trùng thuộc 9 bộ.

-     Những loài thú của Vườn Quốc Gia Lò Gò- Xa Mát đang bị đe dọa nghiêm trọng vì tác động của con người và môi trường phát triển ngày càng xấu; một số loài rất có giá trị nhưng lại bị xếp vào dạng nguy cấp: Vooc Chà vá chân đen, Vooc Bạc, Khỉ đuôi lợn, Culi nhỏ, Sóc bay đen trắng, Dơi chó tai ngắn; chăn thả gia súc trâu bò của người đồng bào Khmer vùng biên giới, nguy cơ cháy rừng thường ngày vào mùa khô, đánh bắt cá, bẫy gà rừng và thú nhỏ.

-     Giải pháp bảo tồn và phát triển của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát: can thiệp bằng lực bảo vệ rừng; xây dựng chương trình giáo dục môi trường phối hợp với trường học trên địa bàn VQG; tiếp tục khảo sát, triển khai việc nghiên cứu thêm các đối tượng mới làm đa dạng tài nguyên sinh học ở VQG.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2926/QĐ-UBND ngày 17/12/2007. Kết quả đề tài được ứng dụng trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái VQG và Dự án đầu tư VQG giai đoạn 2011 - 2020; Một số đề án bảo tồn Đa dạng sinh học đối với: rừng thuần loại cây Sao dầu; các nhóm tài nguyên cây thuốc, các nhóm thú, chim và bò sát quý hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa.

-     Cung cấp tư liệu cho cơ quan báo chí, các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường đại học.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ quan, sở, ngành tỉnh Tây NinhĐiều tra đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ quan, sở, ngành tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Võ Hoàng Khải Cơ quan chủ trì: Trường Chính Trị Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 Kinh phí thực hiện: 78,78 triệu đồng (Hỗ trợ kinh phí thực hiện). Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định thực trạng nguồn nhân lực tại các đơn vị hành chính công trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nhằm thu thập những thông tin cơ bản về các chỉ số liên quan đến năng lực, chất lượng và việc sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, lực lượng chính trong các công sở ở các sở, ngành tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Điều tra thực trạng nguồn nhân lực tại các đơn vị hành chính công trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

-  Điều tra động cơ, thái độ làm việc của cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước, chất lượng công tác tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức hiện hành.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của các sở, ngành tỉnh Tây Ninh: về cơ cấu độ tuổi, giới tính và thâm niên công tác, trình độ chuyên môn và cơ cấu ngạch công chức (CC), đời sống CC, tinh thần thái độ, động cơ đối với công việc và các kiến thức khác (ngoại ngữ, tin học, lý luận chính trị), vấn đề liên quan đến CC từ bỏ công việc Nhà nước, cơ chế tuyển dụng và sử dụng CC; phản ứng của cán bộ CC đối với việc xử lý những hành vi và thái độ làm việc chưa tốt, không hoàn thành nhiệm vụ ở các công sở.

-  Theo số liệu thống kê điều tra tại Sở Nội vụ tỉnh năm 2008, đội ngũ cán bộ công chức hành chính của tỉnh có số lượng 1.536 người (sở ngành tỉnh là 816 người; các huyện, thị xã là 720 người)

+ Về cơ cấu tuổi, giới tính, thâm niên công tác: dưới 30 tuổi 17,2%; từ 30 - 40 tuổi 26,6%; từ 40 - 50 tuổi 34,7%; trên 50 tuổi 21,3%. Điều này cho thấy trong tương lai có thể dẫn đến sự hụt hẫng đội ngũ kế thừa sau này, vì độ tuổi từ 40 trở lên chiếm 56%, trong khi dưới 30 tuổi chỉ chiếm 17,2% ;

Thâm niên công tác, đa số có thâm niên cao, được thể hiện: từ 5 năm đến 15 năm là 32%; trên 15 năm chiếm 43,3%. Thâm niên cao có lợi thế về kinh nghiệm trong công việc nhưng cũng dể gây ra tình trạng bảo thủ, chậm thích nghi với điều kiện mới; cơ cấu giới: nam chiếm 60,1%; nữ chiếm 39,3%, công chức nam nhiều hơn nữ.

+ Về tình trạng chuyên môn và cơ cấu ngạch công chức: tỉ lệ cán bộ công chức có trình độ từ đại học trở lên chiếm 91,8% (chính quy 56,5%; tại chức 34,7%); sau đại học chiếm 7,3%; ngành nghề đào tạo đa dạng (ngành khoa hoc - kỹ thuật chiếm 27,6%; kinh tế 25,8%); công chức ngạch chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính là 15,7%; chuyên viên chiếm 62,6%; cán sự, nhân viên 21,7%.

+ Về kiến thức khác: đa số đội ngũ có trình độ tin học văn phòng; trình độ ngoại ngữ chứng chỉ C trở lên 10,6% (còn lại B là 56,2%; A chiếm 33,2%); lý luận chính trị: đa số công chức đã qua các lớp đào tạo - bồi dưỡng về chính trị, nhưng hầu như chỉ dừng lại ở mức độ chuẩn hóa cán bộ công chức (sơ cấp chiếm 29,2% ; trung cấp 38,2%; cao cấp 32,6%); về quản lý Nhà nước có 67,6% đã qua lớp bồi dưỡng.

+ Về đời sống công chức: chủ yếu sống nhờ vào lương chiếm 78,1% (làm kinh tế phụ 20,9%; thu nhập khác 1,0%); về động cơ làm việc của công chức: chọn cơ quan Nhà nước để làm là phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo và có việc làm ổn định chiếm 81% (9,6% do không có sự lựa chọn nào khác).

+ Vấn đề liên quan đến công chức từ bỏ công việc Nhà nước: có 12,5% sẵn sàng từ bỏ công việc hiện tại chuyển sang làm việc nơi khác có thu nhập cao hơn; cơ chế tuyển dụng và sử dụng: chỉ có 51,7% tuyển dụng qua thi tuyển (còn lại 49,3% là qua các nguồn khác nhau), điều này cho thấy có gần một nửa công chức trước đây chưa được kiểm soát đầu vào.

+ Về tinh thần và trách nhiệm với công việc: có 23,4% đứng trước những khó khăn trong công tác là quyết tâm theo đuổi đến cùng (còn lại chọn hướng giải quyết khác như xin ý kiến lãnh đạo). Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề chấp hành nội quy làm việc của cán bộ công chức chưa cao, thể hiện qua việc (chỉ có 27,8% đi làm, đi họp đúng giờ).

- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CC: Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng cho các chức danh; tăng thêm lực lượng đào tạo chính quy; trẻ hóa đội ngũ cán bộ; có chế độ phụ cấp phù hợp ngoài lương để thu hút và kích thích tinh thần làm việc của cán bộ công chức.

+ Xây dựng quy chế đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện hiện đại phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cho Trường Chính trị chất lượng và quy mô về cơ sở vật chất.

+ Xây dựng quy định về chế độ, chính sách nhằm thu hút những người có trình độ cao và những người có trình độ chuyên môn giỏi về công tác trong các cơ quan hành chính trong tỉnh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-  Cung cấp số liệu cho luận văn cao học “Quản lý đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực công”, “phân tích nội dung đào tạo công chức”.

-  Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã được đưa vào giảng dạy trong các lớp bồi dưỡng công chức hàng năm tại Trường Chính trị Tây Ninh, trong chuyên đề “Quản lý Nhà nước về công vụ, công chức”, cụ thể: năm 2010: 2 lớp; năm 2011: 2 lớp; năm 2012: 3 lớp và dự kiến năm 2013: 4 lớp.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây NinhGiải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh
Ngày 10/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh” do Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trì thực hiện.

Hội đồng nghiệm thu đề tài có sự tham dự của bà Phạm Thị Lan Hương – GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng; bà Phan Thị Điệp – PCT Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, PCT Hội đồng; TS. Nguyễn Ngọc Dũng - Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Tây Ninh và CN Dương Thị Thu Hiền – CT Liên hiệp các Hội KH&KT Tây Ninh tham gia phản biện cùng các thành viên đang công tác tại các Sở, ngành có liên quan.

Với nội dung nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) và đề xuất các giải pháp để tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại Tây Ninh.  Giúp cho cấp ủy, chính quyền các cấp nhận thức rõ hơn về vai trò công tác cán bộ nữ lãnh đạo các cấp.

Các thành viên Hội đồng thống nhất đề tài sẽ là căn cứ khoa học định hướng cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng các cấp nhằm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về tỷ lệ cán bộ nữ, đồng thời là cơ sở để các cấp ủy đảng, chính quyền vận dụng các giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý vào công tác xây dựng đề án đào tạo, bố trí cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý của đơn vị. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài bổ sung và hoàn chỉnh báo cáo theo góp ý của các thành viên Hội đồng và phản biện trước khi trình phê duyệt công nhận kết quả.

 Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại: Xuất sắc.

Phòng TT – SHTT

16/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Hiện trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai, quán triệt và tổ chức thức hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của ĐảngHiện trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai, quán triệt và tổ chức thức hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng
Chủ nhiệm đề tài: CN. Võ Hiền Phương Cơ quan chủ trì: Văn phòng Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2009 Kinh phí thực hiện: 95,53 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá đúng thực trạng việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nêu được những ưu điểm, nhược điểm, đặc biệt là chỉ ra được những yếu tố nào làm cản trở chỉ thị, nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống và tìm ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục.

Đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tiến hành Điều tra, khảo sát công tác triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trên 9 huyện, thị thuộc tỉnh Tây Ninh.

Các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của việc triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

Tổ chức triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng thí điểm ở hai huyện Hòa Thành và Tân Biên.

Tập huấn cho đội ngũ cán bộ, báo cáo viên tiến hành thực hiện và từng bước rút kinh nghiệm bổ sung để hoàn thiện.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua tham khảo ý kiến của 1.073 đối tượng, trong đó có 128 đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, 209 đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp huyện - thị và tương đương, 228 đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, 173 đảng viên, 335 quần chúng ngoài Đảng cho thấy: có 23,11% ý kiến cho rằng chỉ được nghe phổ biến trong cuộc họp cấp ủy hay chi bộ; có 20,88% được nghe phổ biến chỉ thị, nghị quyết rồi thảo luận; có 40,73% được cấp ủy hoặc báo cáo viên giới thiệu rồi thảo luận quán triệt; 15,28% ý kiến về các hình thức khác.

+ Phương thức tuyên truyền chỉ thị, nghị quyết của Đảng ra quần chúng nhân dân trên thực tế cũng chỉ tập trung vào 3 hình thức phổ biến: đọc cho dân nghe qua đài phát thanh địa phương 23,67% ý kiến; họp dân theo tổ dân phố hay thôn ấp rồi đọc tài liệu 38,58% ý kiến; họp dân mời báo cáo viên đến báo cáo 37,74% ý kiến.

+ Có sự đổi mới về hình thức và chất lượng: cách thức chỉ đạo tổ chức học tập được tập trung hơn, hình thức học tập cũng có nhiều điểm cải tiến cho phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Điều này đã thể hiện qua kết quả điều tra xã hội học, đảng viên và quần chúng cho thấy có 62,91% ý kiến đồng ý với nhận định trên (trong đó có 22,74% còn cho là đã có nhiều đổi mới). Sự đánh giá này giữa các nhóm cán bộ, đảng viên, quần chúng là tương đối giống nhau. Nhóm cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh tỷ lệ tương ứng là 62,5% và 27,27%; nhóm cán bộ cấp huyện, thị là 62,68% và 35,32%. Nhóm cán bộ cơ sở là 44,88% và 35,03%; nhóm đảng viên là 78,3% và 12,72%; nhóm quần chúng ngoài Đảng là 61,73% và 11,09%.

- Tổ chức học tập quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở các cấp, các ngành trong tỉnh là tương đối nghiêm túc: kết quả điều tra xã hội học cho thấy có 65,43% ý kiến đồng tình với nhận định này, trong đó nhóm cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh cao nhất (83,59%), tiếp đến là nhóm cán bộ lãnh đạo cấp huyện (81,34%), nhóm đảng viên không giữ chức vụ (67,05%), nhóm quần chúng ngoài Đảng (65,37%), chỉ có nhóm cán bộ cấp cơ sở là thấp (39,48%).

Sự nghiêm túc trong tổ chức chỉ đạo học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng thể hiện: các Đảng bộ trong tỉnh đã nghiêm túc chấp hành chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và sự hướng dẫn của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương về nội dung, kế hoạch, quy trình, đối tượng học tập. Mỗi lần học tập nghị quyết của đảng, các cấp uỷ đều xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết của đảng ở địa phương, ngành, cơ quan mình để nhanh chóng đưa nghị quyết của đảng đi vào cuộc sống. Qua đó đã dần dần hình thành được ý thức, nâng cao được tính tổ chức kỷ luật trong việc học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của đảng trong toàn đảng bộ.

Tuy nhiên, việc cụ thể hóa chỉ thị, nghị quyết của Đảng thành kế hoạch (chương trình hành động) của cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở nhìn chung là tích cực, nghiêm túc, nhưng chất lượng chưa cao; đặc biệt là càng xuống cấp dưới thì chất lượng lại càng giảm (có 64,31% ý kiến nhất trí với nhận định trên, trong đó nhóm cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh 63,28%; cấp huyện thị 55,8%; cơ sở 68,84%; đảng viên 68,71%; quần chúng ngoài Đảng 60%). Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên:

+ Về khách quan: việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật và các văn bản pháp quy của Nhà Nước để toàn dân thực hiện, của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp còn chậm trễ, có chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành phải 2 - 3 năm sau Quốc hội mới thể chế thành luật hay pháp lệnh. Còn từ luật hay pháp lệnh của Quốc hội đến nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn của bộ hay liên bộ lại càng chậm hơn. Đó là chưa kể giữa luật, pháp lệnh của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của Bộ hay liên Bộ cũng có không ít trường hợp thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

+ Về chủ quan: các cấp ủy đảng chưa lường hết những tình huống khó khăn trong quá trình chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng nên thường bị động, lúng túng trước những vấn đề phát sinh trong thực tiễn; sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao.

- Nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa việc tổ chức học tập triển khai, quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng: tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng quy trình và hình thức tổ chức học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

        Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1742/QĐ-UBND ngày 27/8/2009. Từ kết quả nghiên cứu Cơ quan chủ trì và Chủ nhiệm đề tài đã soạn thảo thành nội dung tài liệu tập huấn và tiến hành tập huấn cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ cơ sở trong tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai, tổ chức thực hiện các chỉ thị và nghị quyết của Đảng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu nguyên nhân gây ra dông sét và đề xuất các giải pháp phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu tỉnh Tây NinhNghiên cứu nguyên nhân gây ra dông sét và đề xuất các giải pháp phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Ngọc Thanh Cơ quan chủ trì: Phân viện Địa lý TP.HCM (nay là Viện Địa lý Tài nguyên TP.HCM) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2010 Kinh phí thực hiện: 572,404 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xác định các nguyên nhân xuất hiện dông sét có tính tập trung cao; phổ biến kiến thức và cung cấp tài liệu cho nhân dân nhằm nâng cao sự hiểu biết về dông sét, trên cơ sở đó hướng dẫn người dân các biện pháp tự phòng tránh.

-     Đề xuất các giải pháp phòng tránh có hiệu quả nhằm làm giảm nhẹ các thiệt hại do hiện tượng dông sét gây ra trong các khu vực nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra và lập cơ sở trong nhân dân ghi nhận xuất hiện dông sét.

-     Số hóa các bản đồ: 36 sơ đồ, bản đồ.

-     Thực hiện 6 chuyên đề gồm: Nghiên cứu địa vật lý - cấu trúc địa chất; Nghiên cứu đặc điểm đại chất trầm tích; Nghiên cứu đặc điểm khí hậu - khí tượng; Nghiên cứu diễn biến sử dụng đất qua các thời kỳ; Nghiên cứu đặc điểm địa hình - địa mạo; Nghiên cứu đặc điểm địa chất công trình - địa chất thủy văn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Dông sét là một hiện tượng ngẫu nhiên, tùy theo đặc điểm tự nhiên của nó có thể xảy ra trong khu vực này nhiều hơn so với khu vực khác.

-     Xác định được nguyên nhân tổng quát xuất hiện dông sét trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu: các dạng hình thế thời tiết ảnh hưởng đến Tây Ninh, và đặc điểm địa hình của Tây Ninh khu vực lân cận, tác động của biến động khí hậu trong 30 năm trở lại đây.

+ Các dạng hình thế thời tiết ảnh hưởng đến Tây Ninh: trong tháng 4, vào thời kỳ mưa chuyển mùa, áp thấp nóng Ấn Miến tiếp tục phát triển mạnh hơn sang phía đông, tạo nên rãnh thấp gió mùa theo hướng Tây - Đông vắt qua 25 ÷ 27 vĩ độ Bắc;

+ Cuối tháng 4 đầu tháng 5, áp thấp nóng phát triển nhanh sang phía đông, kết hợp với hình thành một xoáy thuận nhiệt đới với vịnh Bengal, gió Tây Nam có cường độ yếu bắt đầu xuất hiện trên miền Đông Nam Bộ. Hoạt động của gió mùa Tây Nam là nguyên nhân chủ yếu gây nên mưa trong những tháng đầu mùa mưa;

+ Trong mùa mưa ở khu vực Nam Bộ thường xảy ra những đợt ít mưa kéo dài từ 5 đến 10 ngày (khoảng tháng 6 đến tháng 8), sau các đợt này thường xuất hiện dông mạnh kèm theo mưa to.

+ Đặc điểm địa hình của Tây Ninh và khu vực lân cận: nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi cao nguyên Nam Trung Bộ và ĐBSCL, nên địa hình Tây Ninh nghiêng từ Đông Bắc xuống Tây Nam;

+ Vùng Bến Cầu trũng hơn hai huyện Tân Biên và Tân Châu, gió Tây Nam đến huyện Bến Cầu, qua đồng bằng Campuchia khô hạn, không khí nóng và gặp sự bốc hơi mạnh nên điều kiện thuận lợi cho việc hình thành mây dông;

+ Khi thời tiết chuyển mùa với trường gió lệch đông đến Đông Nam xuất hiện thì địa hình vùng Tân Biên, Tân Châu lại là nơi đón gió sớm hơn phần phía Tây, những khối mây tích vũ hình thành từ biển vào dẫn đến hệ quả là vào nửa cuối tháng 9 đến tháng 10, khu vực này có dông sét nhiều hơn các khu vực khác;

+ Lượng mưa nhiều dẫn đến khả năng xuất hiện dông sét nhiều; từ đó cho phép đưa ra dự báo thời gian xảy ra dông sét hàng năm trong khu vực nghiên cứu: thời gian thường có dông sét trong ngày là từ 15 giờ trở đi; hiện tượng dông sét xảy ra vào các tháng : IV, V, VI, IX, X;

+ Tân Biên xảy ra dông sét nhiều từ tháng 4 đến tháng 7 (trong mùa gió mùa Tây Nam); Tân Châu xảy ra dông sét nhiều từ tháng 5 tháng 8, và tháng 9 (cả trong mùa gió mùa Tây Nam và Đông Nam); Bến Cầu xảy ra dông sét nhiều từ tháng 5 đến tháng 7 (trong mùa gió mùa Tây Nam).

+ Tác động của biến động khí hậu trong 30 năm trở lại đây: nhiệt độ không khí và nhiệt độ mặt đất, tốc độ gió mạnh nhất, lượng bốc hơi, lượng năm đều có xu hướng tăng; số giờ nắng lại giảm.

-     Nguyên nhân đặc thù xuất hiện dông sét có tính chọn lọc trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu xuất phát từ các điều kiện tự nhiên đặc thù bao gồm: đặc điểm mật độ dông sét, địa hình, hiện trạng sử dụng đất, đất ngập nước, địa chất, địa chất thủy văn, điện trở suất và từ trường.

-     Đã xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sét đánh cho khu vực Tân Biên, Tân Châu và Bến Cầu.

-     Đã đưa ra dự báo dông sét hàng năm trong khu vực nghiên cứu.

-     Đã đề xuất các giải pháp cụ thể để phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại về người và của cải vật chất do dông sét gây ra trong khu vực nghiên cứu gồm giải pháp công trình (sử dụng các thiết bị chống sét như thu lôi, cắt lọc sét; công trình trú sét cho người lao động ngoài trời; hệ thống cảnh báo sớm dông sét) và phi công trình (các biện pháp giáo dục về phòng tránh sét; tăng cường phổ biến kiến thức phòng tránh qua truyền thông đại chúng).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Giao thông Vận tải; Sở Xây dựng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi) ứng dụng trong công tác quản lý của ngành và sử dụng kết quả nghiên cứu đề tài làm tài liệu tham khảo trong việc tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân về kiến thức phòng tránh dông sét, giảm nhẹ rủi ro do thiên tai gây ra.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa tángĐiều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa táng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hận Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 198,96 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

         MỤC TIÊU

-  Quy hoạch việc chôn cất hài cốt tập trung, không sử dụng đất thổ để xây dựng mồ mả, hướng đến tập quán hỏa táng, phù hợp với nền văn minh mới hợp vệ sinh.

-  Quy hoạch nghĩa địa nhằm mục đích đảm bảo tình hình sử dụng đất, đảm bảo vệ sinh nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo môi trường sinh thái nét đẹp mỹ quan đô thị.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

-  Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội.

-  Điều tra, khảo sát hiện trạng chôn cất, phân tích môi trường (đất nước).

-  Thống xử số liệu.

-  Xây dựng hình toán về tốc độ tăng dân số theo tỷ lệ chết.

-  Lập số hóa các loại bản đồ bằng phương pháp GIS.

-  Xây dựng bản đồ quy hoạch nghĩa trang trên phần mềm Mapinfo.

-  Tham quan đề xuất biện pháp hỏa táng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sở Khoa học Công nghệ Tây Ninh đã tiến hành điều tra với số lượng 7.772 phiếu về việc hỏa táng: chỉ 18,6% đồng ý; 5% đồng ý nếu như Nhà nước chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

-  Ý kiến của các đoàn thể tôn giáo đa số đồng ý với hình thức hỏa táng; do vậy với sự tác động của các tổ chức này, tâm về chôn cất của người dân dần dần sẽ thay đổi.

-   Phương pháp hỏa táng: phương pháp dùng nhiệt độ cao (khoảng 600- 10000C) đốt xác người cùng với quan tài các vật liệu tẩm liệm thành tro, xương người khi đó bị cháy thành các mảnh vụn. Một phần tro xương sau đó được cho vào hủ kín để thờ phụng hoặc đem rải xuống sông, hồ.

 

 

 

-  Công nghệ hỏa táng theo nhiên liệu đốt (củi, dầu, điện, gas) xử khói bằng phương pháp đốt bổ sung (đốt lại), gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu (buồng đốt cấp), nhiệt độ cháy được giữ 600 - 9000C, giai đoạn thứ hai (buồng đốt thứ cấp), nhiệt độ 900 - 1.1000C được kiểm soát để tạo ra các sản phẩm cháy hoàn toàn.

-  Thiết bị: phù hợp với đặc thù của tỉnh, đảm bảo tính công nghệ tiên tiến, an toàn bảo vệ môi trường; một số thiết bị chuyên dùng: điện ABB của Thụy Sĩ, gas Pyrox của Canada, hỏa táng Power - pak II của Mỹ.

Qua quá trình thu thập thông tin, dữ liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu hiện trạng nghĩa địa, nghĩa trang trên địa bàn tỉnh, đề tài đã đề xuất được hình hỏa táng xây dựng Trung tâm hỏa táng Tây Ninh trực thuộc Sở lao động, Thương binh hội tỉnh Tây Ninh với công nghệ đốt Power - Pak của Mỹ với nguyên liệu đốt gas. Đây một trung tâm hoạt động công ích thu, đóng góp cho hội về mặt nhân đạo, từ thiện bảo vệ môi trường.

Địa điểm của Trung tâm hỏa táng đáp ứng được nhu cầu của nhiều địa phương, rộng rãi, thoáng, yên tĩnh, trang nghiêm thuận tiện cho đi lại, bố cục kiến trúc hợp lý, tính dân tộc, phù hợp với đặc thù của tỉnh, sạch đẹp tạo ấn tượng tốt về một nơi an nghỉ cuối cùng cho người đã khuất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm của đề tài được chuyển giao cho Sở Lao động Thương Binh hội, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu ứng dụng trong xây dựng đề án về “Nghĩa trang xanh”, trong công tác quản của ngành. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sở khoa học để Sở Lao động Thương binh hội tham mưu UBND tỉnh phê duyệt dự án xây dựng công trình đài hỏa táng tại Trường Hòa, huyện a Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 7/2009, Công ty TNHH Fairy Park Việt Nam (thuộc tập đoàn Fairy Park, Malaysia) trụ sở tại 274, Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng “Sơn Trang Tiên Cảnh” tại ấp Trường Thọ, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh với số vốn đầu 20 triệu USD, tổng diện tích khu đất khoảng 75 ha giai đoạn 1 với diện tích khoảng 14 ha, dự kiến sẽ phục vụ khoảng 5.000 ngôi mộ an táng, trên 8.000 chỗ lưu trữ tro cốt hỏa táng, chưa kể phần mộ cải táng. Sơn Trang Tiên Cảnh được xây dựng theo mô hình Fairy Park tại Malaysia, có phong cảnh cây cỏ, suối nước, non bộ, các tượng thần, thánh của các tôn giáo, đội ngũ nhân viên chăm sóc mộ...

Từ tháng 8/2011, tập đoàn Fairy Park (Malaysia) đưa Sơn Trang Tiên Cảnh đi vào hoạt động. nơi chôn cất được xây dựng theo kiểu kiến trúc mới, hiện đại hợp phong thủy. Phong cách tiên tiến không nhang khói, phù hợp với chính sách bảo vệ môi trường; hộp đựng tro cốt được làm bằng nhôm, nhập khẩu từ Đài Loan, thiêu bằng diesel... Đây hạng mục công trình lớn nhất, hiện đại nhất của nước ngoài đầu vào lĩnh vực này

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Công đoàn cơ sở, tổ chức hoạt động và phát triển Đoàn viên ở các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiThành lập Công đoàn cơ sở, tổ chức hoạt động và phát triển Đoàn viên ở các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Chủ nhiệm đề tài: CN. Nguyễn Văn Nhiếm Đồng chủ nhiệm: CN. Vương Văn Lai Cơ quan chủ trì: Liên đoàn Lao động tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: năm 2010 Kinh phí thực hiện: 308,88 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Đánh giá đúng thực trạng tình hình công nhân, viên chức lao động (CNVCLĐ), tổ chức và hoạt động cũng như công tác phát triển đoàn viên công đoàn (ĐVCĐ) trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Phân tích những mặt mạnh, những mặt yếu kém, tồn tại và nguyên nhân, từ đó nêu lên tính tất yếu phải phát triển ĐVCĐ và thành lập công đoàn cơ sở (CĐCS) ở các doanh nghiệp FDI chưa thành lập được tổ chức công đoàn trên địa bàn tỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh giao phó.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Khảo sát số lượng, quê quán, trình độ văn hóa, tay nghề, thu nhập, điều kiện sống, sự hiểu biết về tổ chức công đoàn của đội ngũ công nhân, lao động tại các doanh nghiệp FDI thuộc các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Khảo sát hoạt động của Ban chấp hành công đoàn một số doanh nghiệp: sự hiểu biết về tổ chức công đoàn, chế độ chính sách cơ bản; nguyên tắc của tổ chức công đoàn; phương pháp hoạt động của Ban chấp hành công đoàn; phương pháp phối hợp hoạt động giữa Ban chấp hành công đoàn và người sử dụng lao động, phương pháp tổ chức hoạt động cho ĐVCĐ.

-  Nghiên cứu và đề xuất với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh một số chủ trương chính sách đối với tổ chức hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp FDI cũng như phát triển đoàn viên trong loại hình doanh nghiệp này.

-  Nghiên cứu xây dựng mô hình điểm hoạt động công đoàn trong doanh nghiệp FDI.

-  Đề xuất các nhóm giải pháp mang tính hệ thống, khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp FDI; trong đó để phát triển đoàn viên và thành lập được CĐCS trong các doanh nghiệp FDI cần phải đi sâu xây dựng các nhóm giải pháp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tổng số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thời điểm được khảo sát: 71; bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp trong đó tổng số phiếu phát ra dành cho người sử dụng lao động: 71; tổng số phiếu thu về: 67. Tổng số phiếu phát ra dành cho cán bộ công đoàn: 71; tổng số phiếu thu về: 69; Tổng số phiếu phát ra dành cho người lao động: 2.950; tổng số phiếu thu về 2.701. Kết quả phân tích:

+ Đối với phiếu dành cho người sử dụng lao động:

Phiếu thăm dò tập trung vào 2 nội dung lớn là muốn nắm bắt suy nghĩ của người sử dụng lao động về tổ chức công đoàn cơ sở và người lao động ở các doanh nghiệp hiện nay. Hai nội dung này được thể hiện dưới dạng câu hỏi với trên 50 chỉ tiêu được nêu ra, cụ thể như sau:

+ Nhận thức về tổ chức công đoàn: 59 phiếu đồng ý và 8 phiếu không nêu ý kiến thành lập tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp của mình. Hoạt động công đoàn của doanh nghiệp trong thời gian qua ( rất tốt: 07, tốt: 48; chưa tốt: 12). Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với công đoàn cơ sở (rất tốt: 13, tốt: 49, chưa tốt: 05). Doanh nghiệp nên có cán bộ chuyên làm công tác công đoàn (rất cần: 14, cần: 25, không nêu ý kiến: 28).

+ Nhận thức về công nhân (CN): doanh nghiệp có mối quan hệ thân thiện với CN (rất tốt: 15, tốt: 44, chưa tốt: 02); chăm lo nhà ở của CN (thuê nhà trọ cho CN: 12; trả thêm tiền cho CN: 19, chưa: 33); việc áp dụng và thực hiện các quy định của pháp luật lao động đối với công nhân lao động (CNLĐ) (tất cả đều thực hiện tốt: 44, có thực hiện nhưng chưa đầy đủ: 21).

-  Những khó khăn cán bộ công đoàn thường gặp phải trong hoạt động công đoàn: chủ doanh nghiệp thường xem nhẹ vai trò của công đoàn, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn hoạt động, không đối thoại với CĐCS, cán bộ CĐCS là bán chuyên trách nên còn phụ thuộc, chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều hành từ chủ doanh nghiệp; CN chủ yếu quan tâm đến thu nhập, không có thời gian tham khảo văn bản về công đoàn; nghiệp vụ công đoàn yếu, chưa hiệu quả, chưa được hiểu biết nhiều về luật, chưa nắm rõ hết tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, không có thời gian hoạt động công đoàn và chưa được đoàn viên tin tưởng.

-  Năm 2009, có 70/92 CĐCS đã thành lập được xếp loại: 35 CĐCS đạt vững mạnh và vững mạnh xuất sắc, 17 CĐCS đạt khá, 16 CĐCS đạt trung bình, 02 đạt yếu kém; 22 CĐCS còn lại không xếp loại được.

-  Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp FDI chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Cán bộ CĐCS không được thường xuyên tập huấn nghiệp vụ nên hoạt động công đoàn chưa tốt, chưa phải là đối tác ngang tầm của chủ doanh nghiệp.

-  Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất của giai cấp công nhân (GCCN), là tổ chức duy nhất đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của GCCN, vì vậy cần phải quy định thành lập tổ chức trong các doanh nghiệp.

-  Trong tình hình hiện nay doanh nghiệp FDI ngày càng nhiều, số lượng công nhân lao động tăng lên một cách nhanh chóng thì việc xây dựng mô hình điểm hoạt động trong các doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách và quan trọng. Hình thức và nội dung hoạt động công đoàn ở mô hình này: Đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNLĐ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập trong CNLĐ; tổ chức phong trào thi đua CNLĐ; chăm lo đến CNLĐ; đổi mới tổ chức, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động và đội ngũ cán bộ công tác trong các doanh nghiệp; nêu lên vị trí, nhiệm vụ của chủ tịch, tổ trưởng công đoàn.

-  Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động công đoàn ở các doanh nghiệp FDI, chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ, với những nội dung phù hợp, đáp ứng được nguyện vọng của CNLĐ.

-  Giải pháp cụ thể: có kế hoạch khảo sát để xác định doanh nghiệp có bao nhiêu công nhân lao động thì có thể bố trí được cán bộ công đoàn chuyên trách, mở lớp đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ này; các chế độ phù hợp, thỏa đáng cho cán bộ công đoàn chuyên trách và bán chuyên trách trong các doanh nghiệp FDI; địa vị pháp lý của tổ chức này trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2274/QĐ-UBND ngày 04/11/2011. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Tây Ninh triển khai ứng dụng trong chỉ đạo các cấp công đoàn phối hợp cùng chính quyền tổ chức triển khai thực hiện, có 76% doanh nghiệp FDI đã ký thỏa ước lao động tập thể; thành lập Văn phòng tư vấn pháp luật của LĐLĐ tỉnh và tổ tư vấn huyện, thị xã, công đoàn các khu công nghiệp để tư vấn một số thắc mắc về chế độ chính sách, tiền lương, trợ cấp thôi việc, BHXH, thời gian làm việc, nghỉ ngơi; Thành lập mới 07 công đoàn cơ sở (CĐCS) doanh nghiệp FDI thuộc LĐLĐ các huyện và công đoàn các khu công nghiệp.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu chọn lọc giống và các định biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nâng cao năng suất phẩm chất mãng cầu Tây NinhNghiên cứu chọn lọc giống và các định biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nâng cao năng suất phẩm chất mãng cầu Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Xuân Khôi Cơ quan chủ trì: Trung tâm Giống Nông nghiệp Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 306,104 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá tiềm năng, xác định các yếu tố giới hạn cần khắc phục trong hiện trạng sản xuất và thị trường tiêu thu cây mãng cầu ta (MC) tại Tây Ninh.

- Xác định tập đoàn giống và tuyển chọn các dòng MC tốt cho sản xuất.

- Xác định một số biện pháp canh tác thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất cây MC trên địa bàn, tạo điều kiện hướng đến thương hiệu đặc trưng của MC Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra hiện trạng sản xuất MC tại Tây Ninh.

- Khảo sát tập đoàn giống/dòng MC tại Tây Ninh.

- Thu thập các thông số, đặc điểm, chất lượng trái tại thời điểm thu hoạch, thông tin các tiêu chuẩn trái theo yêu cầu thị trường.

- Điều tra, theo dõi các cá thể MC tốt để đưa vào sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường.

- Triển khai các thí nghiệm nghiên cứu gồm có: nghiên cứu hiệu quả một số phương pháp ghép chuyển giống trên cây MC; liều lượng phân bón ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất cây MC; hiệu quả của biện pháp bấm, tỉa ngọn cành trước ra hoa và tỉa thưa trái MC; độ chín thu hoạch trái MC nhằm đảm bảo chất lượng trái theo yêu cau của Thị trường; Hiệu quả mot số hóa chat làm rụng lá trước khi ra đọt non trên cây MC.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Hiện trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ MC, các thế mạnh và hạn chế cần khắc phục.

+ Các vườn trồng mãng cầu ta nhân giống bằng hạt, vườn cây không thuần giống, năng suất quả loại một thấp.

+ Việc sử dụng phân bón và phân bón lá khác biệt lớn về số lượng, chủng loại nhưng chưa nắm được sự cân đối dinh dưỡng và sự lãng phí dinh dưỡng, chi phí sản xuất cao, rủi ro lớn.

+ Một số đối tượng gây hại mãng cầu như bọ trĩ, rệp sáp, bọ vòi voi, ruồi đục quả bệnh nứt thân xì mủ đã trở thành mối hiểm họa lớn cho người trồng mãng cầu, mặc dù cường độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cao nhưng chưa kiểm soát có hiệu quả.

+ Nhà vườn tiêu thụ sản phẩm thiếu sự liên kết để tập trung sản lượng theo từng chủng loại sản phẩm, theo từng thị trường nên giá cả tuy cao nhưng phải qua quá nhiều khâu trung gian làm giá tiêu thụ tại vườn thấp.

+ Việc sơ chế, bao bì đóng gói sản phẩm còn thô sơ nên ảnh hưởng chất lượng, hình thức sản phẩm làm giảm giá trị thương phẩm.

+ Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm hướng tới an toàn thực phẩm, cần sản xuất mãng cầu ta theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), trong đó cần nghiên cứu quy trình kiểm soát tổng hợp cho các đối tượng gây hại như: rệp sáp, bọ trĩ, bọ vòi voi, ruồi đục quả và bệnh nứt thân xì mủ.

+ Cần liên kết xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm hướng đến việc sản xuất - tiêu thụ sản phẩm vừa bảo đảm đồng bộ về tiêu chuẩn, quy cách vừa đáp ứng số lượng và chất lượng cho từng loại thị trường.

- Ghi nhận tập đoàn giống và các cá thể MC tốt: 4 cá thể MC sinh trưởng tốt (MC dai, MC bở, MC Thanh long và MC tím) Trong đó, MC dai là giống chủ yếu chiếm tỷ lệ 98.05% trong cơ cấu giống các vườn điều tra.

- Phương pháp ghép chuyển giống MC thích hợp đạt yêu cầu khoa học và ứng dụng.

+ Kết quả bình tuyển cây đầu dòng đã phát hiện bốn cá thể ưu tú, trong đó có cá thể MCTN08 có đặc điểm nổi trội về năng suất đạt (16 kg/cây/vụ). Ngoài ra các cá thể khac MCTN05, MCTN04, MCTN11 năng suất khá cao và mỗi giống có một trong số ưu điểm khác biệt tốt hơn so với bình quân quần thể như: ít hạt, tỷ lệ phần ăn được cao, độ brix cao, tỷ lệ đậu quả cao.

So sánh bốn kiểu ghép cho thấy kiểu ghép mắt bo da và ghép vát ngọn với tuổi gốc ghép 10 - 12 tháng, cành ghép là đoạn cành đã rụng lá có 2 - 3 mắt lá cho tỷ lệ sống và cây con giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn tốt nhất với tỷ lệ ghép thành công ở ghép mắt (74%), ghép vát ngọn (60%).

- Công thức phân bón hữu cơ, kết hợp vô cơ, phân bón lá, bổ sung vi lượng sử dụng trên cây MC tại Tây Ninh đạt yêu cầu kỹ thuật.

+ Liều lượng sử dụng phân bón vô cơ và hữu cơ cho cây mang cầu ta đã xác định được công thức phân bón qua đất gồm: 300gN + 150g P2O5 + 300gK2O + 75gMgSO4 + 20kg

Phân chuồng hoai/cây và bón bổ sung qua lá công thức phân bón theo tỷ lệ N:P:K (1:1:1), (0,5: 2:1), (1:1:3) và có bổ sung vi lượng (B0 , Zn , Mn ) tương ứng vơi các giai đoạn: sau thu hoạch, trước ra hoa, nuôi quả cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất ở cả 2 vụ thí nghiệm.

- Kỹ thuật bấm tỉa ngọn cành trước ra hoa và tỉa thưa trái, thời điểm thu hoạch trái thích hợp trên cây MC tại Tây Ninh đạt yêu cầu khoa học, dễ áp dụng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

+ Kỹ thuật bấm ngọn cành, tỉa thưa quả ở 2 vụ sản xuất (vụ mưa và vụ nắng) cây vẫn ra hoa nhưng việc bấm ngọn cành cây ra hoa chậm và kéo dài hơn kỹ thuật tuốt lá bằng tay không bấm ngọn cành. Kỹ thuật tỉa thưa quả ở các mức độ quả trên cây khác nhau cho kết quả: ở vụ mùa mưa mức để lại 50-70 quả/cay và vụ mùa nắng mức để lại 50 qua/cây cho năng suất thực thụ và quả loại 1 cao đạt hiệu quả kinh tế nhất.

- Xác định hóa chất làm rụng lá trước khi ra đọt non trên cây MC thích hợp.

+ Sử dụng hóa chất thiourea, ethephone cho thấy: ở các nồng độ thí nghiệm có tác động đến sự rụng lá và ảnh hưởng đến ra hoa mãng cầu ta nhưng mức độ thấp hơn so với tuốt lá bằng tay và khác nhau ở 2 vụ sản xuất, ở vụ mưa (vụ 1) sử dụng hóa chất cây vẫn cho năng suất nhưng ở vụ nắng (vụ 2) ra hoa và năng suất thấp hơn so với kỹ thuật tuốt lá. Tuy nhiên, chi phí sử dụng hóa chất thiourea, ethephone xử lý ra hoa mãng cầu ta thấp hơn hoặc tương đương với công lao động tuốt lá, riêng hóa chất thiourea chi phí thấp hơn nhiều.

- Kết quả nghiên cứu độ chín mãng cầu ta chỉ ra rằng: ngày thu hoạch mãng cầu ta thích hợp khoảng 92 - 96 ngày (tính từ khi nở hoa tới khi thời điểm thu hoạch). Sau khi thu hoạch để ở nhiệt độ phòng trong vòng 4-5 ngày quả sẽ chín và cho chất lượng tốt.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2079/QĐ-UBND ngày 16/9/2008. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

- Giúp cho nông dân sản xuất mãng cầu hiểu biết được: vùng đất và kỹ thuật trồng mãng cầu; Giống và cách nhân giống mãng cầu; kỹ thuật bón phân; dịch hại trên cây mãng cầu và biện pháp phòng trừ; cách bảo quản thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.

Cách thu hoạch, phân loại và bảo quản sản phẩm; sức khoẻ, an toàn và an sinh của người lao động.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây NinhXây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đoàn Ngọc Toản Cơ quan chủ trì: Liên đoàn ĐCTV- ĐCCT miền Nam (nay là Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước MN) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 600,503 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-  Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chất công trình (ĐCCT) và các chương trình hỗ trợ để thành lập các bản đồ ĐCCT. CSDL có khả năng lưu trữ và cập nhật các tài liệu khảo sát ĐCCT toàn tỉnh, nhất là địa bàn thị xã và thị trấn.

-  Xây dựng chương trình hỗ trợ thành lập cột địa tầng, mặt cắt và các bản đồ ĐCCT chuyên môn phục vụ cho các ngành kinh tế và khoa học khác nhau.

-  Thành lập loạt bản đồ ĐCCT phục vụ cho quy hoạch xây dựng và sử dụng hợp lý tài nguyên đất khu vực thị xã Tây Ninh.

-  Đào tạo cán bộ kỹ thuật ứng dụng các kết quả nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Thu thập toàn bộ số liệu các công trình nghiên cứu về ĐCCT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Phân loại, sắp xếp các số liệu cần lưu trữ để nhập vào CSDL.

-  Xác định mối quan hệ của các số liệu lưu trữ, các công thức tính toán trên tập hợp các số liệu.

-  Xác định các dạng bản vẽ, các biểu bảng, các loại đồ thị cần xuất ra từ CSDL

-  Xây dựng các bảng cần thiết để lưu trữ số liệu.

-  Xây dựng các quan hệ, các ràng buộc toàn vẹn, các miền giá trị.

-  Xây dựng các giao diện để nhập, xuất, kiểm tra số liệu.

-  Viết các hàm, modules để CSDL hoạt động.

-  Viết các chương trình hỗ trợ thành lập các bản vẽ, mặt cắt, biểu đồ, trên cơ sở các số liệu được xuất ra từ CSDL.

-  Tạo liên kết giữa CSDL với bản đồ, đưa các số liệu trong CSDL trở thành các đối tượng, các thuộc tính của đối tượng GIS.

-  Số liệu trong CSDL được liên kết với bản đồ, các bảng trong CSDL là thuộc tính của bản đồ Người khai thác số liệu có thể tìm kiếm thông tin từ CSDL hoặc từ các bản đồ liên quan.

-  Dựa trên CSDL tính toán các chỉ tiêu cơ lý của đất đá và in ra các biểu bảng, đồ thị thống nhất, giúp cán bộ làm công tác khảo sát ĐCCT dễ dàng thành lập các bản vẽ và biểu bảng cần thiết cho công tác lập báo cáo khảo sát.

-  Viết hướng dẫn sử dụng, biên tập thành file help.

-  Dựa trên CSDL và các phần mềm hỗ trợ tiến hành thành lập loạt bản đồ ĐCCT khu vực thị xã Tây Ninh, phục vụ cho công tác quy hoạch xây dựng, quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên đất.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Đề tài đã thu thập phong phú, đầy đủ các tài liệu về địa chất, địa mạo, ĐCCT đã có trong vùng, đã chỉnh lý chi tiết và có hiệu quả tài liệu điều tra cơ bản của vùng, đặc biệt trong việc phân tích chỉnh lý tài liệu ĐCCT.

-  Thành lập cơ sở dữ liệu ĐCCT trong môi trường nhiều người dùng, tương thích với hệ thống thông tin địa lý (GIS) lưu trữ các loại số liệu về kết quả nghiên cứu ĐCCT, cung cấp số liệu cho các chương trình và phần mềm xử lý số liệu. Viết các chương trình hỗ trợ cho công tác lập bản vẽ, bản đồ ĐCCT. CSDL và các chương trình hỗ trợ là một phần mềm máy tính chuyên dùng trong công tác nghiên cứu ĐCCT.

-  Cơ sở dữ liệu ĐCCT tỉnh Tây Ninh được xây dựng dựa trên các đặc điểm về địa hình (đồi núi, thành tạo do sông), cấu trúc địa chất, và tính chất cơ lý của đất đá, vật liệu xây dựng. Kết quả phân vùng ĐCCT ở Tây Ninh thành 05 vùng, mỗi vùng có điều kiện và đặc trưng riêng.

+ Địa hình đồi núi: bao gồm các sườn núi thành tạo trên các khối xâm nhập (núi Bà Đen), có độ dốc trung bình 15 - 400 đến 50 - 600; trắc địa dọc của địa hình có dạng lõm, mạng lưới dòng chảy tạm thời rất phát triển.

+ Địa hình thành tạo do sông: chiếm phần diện tích còn lại của vùng nghiên cứu như: bãi bồi ven lòng tuổi Holocen muộn, thời muộn (Q2), thềm tích tụ - xâm thực bậc II tuổi Pleistocen muộn, thời muộn (Q1 3), thềm xâm thực tích tụ bậc III tuổi Pleistocen muộn, thời sớm (Q1  1).

+ Cấu trúc địa chất: các trầm tích đệ tứ bao gồm các thành tạo nguồn gốc sông và nguồn gốc sông - đầm lầy phân bố gần như rộng khắp trong vùng nghiên cứu; các thành tạo magma xâm nhập phân bố ở phía Đông với diện tích khoảng 6 km.

+ Đặc điểm địa chất thủy văn: nhìn chung mực nước ngầm trong vùng nghiên cứu nằm nông, nước dưới đất trong vùng có 3 loại ăn mòn đối với bê tông: chủ yếu là ăn mòn rủa lũa, ăn mòn carbonic, ăn mòn axit. Trong vùng không hiện diện ăn mòn sulfat, tại vị trí lỗ khoan DT1 nước không có khả năng ăn mòn.

+ Tính chất cơ lý của đất đá: trong phạm vi ảnh hưởng của móng các công trình xây dựng và nền đất (0 - 30m) các thành tạo đất đá được phân chia thành 4 loạt thạch học là loạt thạch học deluvi, loạt thạch học sông - đầm lầy, loạt thạch học sông và loạt thạch học magma xâm nhập và được chia thành 9 phức hệ thạch học. Các phức hệ thạch học được chia ra 21 kiểu thạch học. Nhìn chung phần lớn diện tích nghiên cứu có cấu trúc đất nền và tính chất cơ lý của đất đá thuận lợi cho việc đặt móng xây dựng công trình.

+ Vật liệu xây dựng: trong phạm vùng nghiên cứu, nguồn vật liệu xây dựng khá hạn chế, chủ yếu là đá xây dựng, cuội sỏi và đất san lấp.

- Kết quả phân vùng địa chất công trình:

+ Vùng thị xã Tây Ninh thuộc miền VII địa chất công trình toàn quốc và được chia thành 4 vùng là vùng đồi núi, vùng đồng bằng xâm thực tích tụ, đồng bằng tích tụ - xâm thực và đồng bằng tích tụ.

+ Vùng đồi núi phân bố ở phía Đông thị xã Tây Ninh và được phân thành 2 khu địa chất công trình VIIA1 và VIIA2. Các khu này không thuận lợi cho xây dựng.

+ Vùng đồng bằng xâm thực tích tụ phân bố chủ yếu ở phía Bắc và một phần ở phía Đông Nam của thị xã Tây Ninh và được chia thành 3 khu địa chất công trình VIIB1, VIIB2, và VIIB3. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ xâm thực phân bố chủ yếu ở phía Tây, phía Nam và trung tâm của thị xã Tây Ninh và được chia ra thành 2 khu địa chất công trình VIIC1, VIIC2. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ phân bố củ yếu ở phía Tây, Tây Nam dọc theo rạch Tây Ninh và các rạch nhỏ trong vùng. Được chia thành 6 khu địa chất công trình VIID1, VIID2, VIID3, VIID4, VIID5 và VIID6. Các khu VIID4, VIID5 và VIID6 không thuận lợi cho xây dựng. Khi có nhu cầu xây dựng tại đây cần sử dụng giải pháp gia cố nền hoặc móng thích hợp.

-  Số lượng tài liệu địa chất công trình thu thập được chủ yếu tập trung ở trung tâm của thị xã. Vì vậy số lượng lỗ khoan trên bản đồ phân bố không đều, có những vùng còn chưa có các công trình nên việc nghiên cứu, phân chia ra các cấp nhều dày của các phức hệ thạch học còn mang tính định tính và chủ yếu dựa vào độ cao địa hình.

-  Bản đồ ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng thị xã Tây Ninh (TXTN) và các mặt cắt đi kèm, bản đồ phân vùng ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN; bản đồ cột địa tầng lỗ khoan tỷ lệ 1/10.000 và bản đồ tài liệu thực tế ĐCCT tỷ lệ 1/10.000, bản đồ sức chịu tải quy ước tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 463/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi), Sở Giao thông Vận tải, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Xây dựng ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra khả năng và nghiên cứu qui hoạch nuôi trồng Thủy sản trong Hồ Dầu TiếngĐiều tra khả năng và nghiên cứu qui hoạch nuôi trồng Thủy sản trong Hồ Dầu Tiếng
Đồng chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Trọng Thanh và ThS. Nguyễn Thanh Tùng Cơ quan chủ trì: Công ty khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 238,45 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định khả năng nuôi trồng thủy sản trong Hồ Dầu Tiếng, quy hoạch vùng nuôi trồng nhằm bảo vệ chất lượng nước và môi trường Hồ.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu.

- Khảo sát đo đạc địa hình, phân tích chất lượng nước lòng hồ.

- Phân tích và tính toán vị trí nuôi trồng.

- Phân tích số lượng bè cá được nuôi.

- Nguồn thức ăn, loại cá có thể phát triển.

- Hệ thống kiểm soát môi trường.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đề tài đánh giá tổng hợp các tư liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, hiện trạng phát triển làng bè, chất lượng nước, cơ sở thức ăn tự nhiên, các chiến lược của ngành thủy sản địa phương và công năng của Hồ Dầu Tiếng .

+ Vị trí hồ Dầu Tiếng: hệ thống công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng nằm trên địa phận Tây Ninh, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh; lưu vực hồ có diện tích 2.700 km2, trên vùng đồi núi thấp thuộc ba tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước thấp dần theo hai hướng Tây Bắc - Đông Nam với trung bình +50m so với mặt biển;

+ Chế độ thuỷ văn: nguồn nước cấp vào hồ có hai nguồn chính là nước mưa và nước mạch; nước mưa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng còn nước ngầm cung cấp một lượng muối; trong năm nước hồ tăng cao nhất là mùa mưa, sự thay đổi mực nước dẫn đến sự thay đổi thuỷ sinh vật và nguồn lợi cá, ảnh hưởng đến năng suất cá;

+ Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản trên hồ Dầu Tiếng: trước năm 2002 nuôi trồng thuỷ sản trong hồ phát triển khoảng 100 lồng chủ yếu nuôi cá Lóc đồng, cá Lóc bông. Đến năm 2002 phát triển phong trào nuôi cá Điêu hồng bằng lồng bè vị trí đặt trên kênh chính Tây, do ảnh hưởng cản trở dòng chảy gây ô nhiễm nguồn nước;

+ Trong quá trình nghiên cứu nguồn lợi thủy sản hồ Dầu Tiếng đã xác định được 54 loài cá thuộc 9 bộ, 19 họ khác nhau và hai loài tôm thuộc họ tôm càng palaemonidae.

+ Các yếu tố của nguồn nước có biến động nằm trong khoảng cho phép của tiêu chuẩn chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản: nhiệt độ, chất rắn lơ lững, độ pH, oxy... Tuy nhiên có một số yếu tố chất lượng nước có hàm lượng vượt mức cho phép của TCVN đối với đời sống thủy sinh vật: amonia, phosphate, sắt tổng số, chì.

+ Thành phần loài thực vật nổi khá đa dạng với tổng số 156 loài thuộc 6 ngành tảo nước ngọt. Trong đó chiếm ưu thế là ngành tảo lục, chủ yếu ở các giống Closterium, Cosmarium, Micrasterias, Pediastrum, Scenedesmus và Staurastrum.

+ Thành phần loài động vật nổi với tổng số 77 loài thuộc 4 ngành. Trong đó lớp trùng bánh xe Rotatoria (ngành Aschelminthes) có số lượng phong phú nhất với 36 loài; ngành chân khớp Arthropoda với 32 loài; ngành Protozoa 8 loài và ấu trùng Mollusca 1 loài.

+ Thành phần loài động vật đáy với tổng số 25 loài thuộc 3 ngành: Arthropoda (11 loài), Mollusca (10 loài), Annelida (4 loài). Theo đánh giá, thành phần giống loài tại khu vực này khá nghèo nàn so với các thủy vực khác.

+ Tình hình khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên hồ, các nông hộ chủ yếu sử dụng 2 loại ngư cụ: lưới xanh và vó đèn đã vi phạm các qui định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản bởi có tính hủy diệt cao. Trong khi việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong hồ mang tính tự phát, ồ ạt không tuân thủ theo các quy định của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi đã gây ô nhiễm nguồn nước, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Quy hoạch nuôi trồng thủy sản trong hồ Dầu Tiếng :

- Đề tài đã chọn phương án 1 (PA1), phương án 2 (PA2) là phương án thực hiện giải tỏa toàn bộ số lượng bè đang hiện hữu trên mặt hồ (trong đó PA1 là phương án trước mắt, sau khi hồ Phước Hòa hoàn thành đưa vào vận hành ổn định có thể xem xét thực hiện PA2).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 94/QĐ-UBND ngày 17/4/2006. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao Chi cục Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản ứng dụng có hiệu quả vào công tác quản lý trong thời gian qua.

- Theo số liệu điều tra của Chi cục Bảo vệ và phát triển nguồn lợi Thuỷ sản Tây Ninh, số lượng cá được thả hàng năm: năm 2008 (797.000 con), năm 2009 (2.218.182 con), năm 2010 (320.000 con), năm 2011 (596.810 con), năm 2012 (1.063.037 con); gồm các loại: Trắm cỏ, Trôi, Mè vinh, Chép, Lăng vàng, Mè hoa, Mè trắng, Hô, Tra, Tra dầu, Thát lát Cườm, Lóc bông; sản lượng đánh bắt cá hàng năm ( 2008 - 2012) bình quân 3.000 tấn.

- Giải tỏa dứt điểm việc nuôi cá bằng lồng, bè trong hồ Dầu Tiếng từ năm 2006, góp phần bảo vệ môi trường nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM.

- Hiện nay, Chi cục Bảo vệ và phát triển nguồn lợi Thuỷ sản Tây Ninh vẫn đang tiếp tục duy trì triển khai thả và đánh bắt cá theo kế hoạch hàng năm.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chỉnh lý và biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 – 2005)Chỉnh lý và biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 – 2005)
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Minh Trọng Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2010 Thời gian nghiệm thu: 2010 Kinh phí thực hiện là: 215,31 triệu đồng (hỗ trợ kinh phí) Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Bổ sung tư liệu 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, 20 năm (1975 - 1995) cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

-     Tổng kết thực tiễn 10 năm (1995 - 2005) những mặt làm được và chưa làm được của chặng đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

-     Đề ra những biện pháp, hướng đi thích hợp đúng với đường lối của Đảng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Biên soạn nội dung các thời kỳ lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

-     Phỏng vấn các nhân chứng lịch sử để thu thập tư liệu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tập sách lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 - 2005).

-     Quá trình thành lập Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, Đảng bộ lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng (1930 - 1945).

+ Đầu năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập, Tây Ninh là tỉnh tiếp giáp với các tỉnh có phong trào cộng sản hoạt động mạnh như Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, ảnh hưởng của Đảng bắt đầu lan rộng đến Tây Ninh. Đồng chí Võ Văn Lợi từ Bà Điểm (Hóc Môn) lên Giồng Nần (Châu Thành), vừa sinh sống, vừa tuyên truyền giác ngộ quần chúng.

+ Những năm 1936 - 1939, mặt trận nhân dân Pháp với Đảng Cộng Sản Pháp làm nòng cốt giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Từ đây, cùng với cả nước, phong trào cách mạng ở Tây Ninh được nhen nhóm trở lại dưới dạng đấu tranh công khai.

+ Tháng 4/1945, các đảng viên ở xã Thanh Điền bắt đầu tổ chức cơ sở Việt Minh và dần dần phát triển sang các xã khác; chiều ngày 24/08/1945, lực lượng quần chúng đầu tiên từ vùng Bến Cầu tiến về xã Thanh Điền; sáng sớm ngày 25/08/1945, từ xã Thanh Điền các đồng chí đảng viên mang súng ngắn dẫn đầu đội ngũ rầm rập tiến vào sân vận động thị xã; sáng hôm sau, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thị trấn.

-     Đảng bộ Tây Ninh lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (1945 - 1954).

+ Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, từ tiếng súng đầu tiên ở Suối Sâu ngày 8/11/1954 đến kết thúc cuộc kháng chiến tháng 7/1954, chiến trường Tây Ninh là một trong những khó khăn nhất của “miền Đông gian lao mà anh dũng”; chúng áp dụng chính sách “tam ngang” (giết sạch, đốt sạch, phá sạch) và dùng đủ các loại vũ khí tối tân nhằm triệt phá vùng căn cứ kháng chiến. Để giành thắng lợi, Đảng bộ và Uỷ ban kháng chiến - Hành chính Tây Ninh đã chỉ đạo mặt trận và các đoàn thể vận động tổ chức chăm lo cuộc sống cho nhân dân;

+ Từng bước thống nhất các lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân: chủ lực, bộ đội địa phương và du kích lớn mạnh; tổ chức giáo dục lập trường quan điểm quần chúng và luôn giữ vững tinh thần cách mạng tiến công, vừa đánh địch tại địa phương, vừa bảo vệ căn cứ địa kháng chiến.

-     Thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).

+ Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và quân dân Tây Ninh lại đứng trước những khó khăn gian khổ và ác liệt hơn; ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến (1954 - 1960) chính quyền Ngô Đình Diệm với những thủ đoạn thâm độc nhất ra sức đàn áp các lực lượng yêu nước, tiêu diệt ý chí độc lập thống nhất nước nhà. Với tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương (01/1959) đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên bằng chiến thắng Tua Hai (01/1960).

+ Sau thất bại chiến lược “chiến tranh một phía”, đế quốc Mỹ thực hiện các chiến lược “chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam. Với sự lãnh đạo sáng suốt về đường lối của Đảng, Trung ương Cục, Quân uỷ, Tỉnh uỷ với nhiều nghị quyết đúng đắn. Nên quân dân Tây Ninh đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, bẻ gãy các chiến lược chiến tranh tàn bạo của Đế quốc Mỹ.

+ Trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến trường, Đảng bộ đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa địch - ta tại tỉnh và từng khu vực, từng huyện để vận dụng được sức mạnh tổng hợp và thực hiện phương chăm đánh địch bằng hai chân, ba mũi, phối hợp chặt chẽ 3 thứ quân. Qua mỗi lần gặp khó khăn, Đảng bộ nghiêm túc rút kinh nghiệm, nghiêm khắc phê bình và tự phê bình, sửa chữa để vươn đến giành thắng lợi hoàn toàn bằng chính lực lượng của tỉnh, góp phần giải phóng Sài Gòn - Gia Định trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

- Khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu ổn định đời sống của nhân dân, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc (1975 - 1979).

+ Sau thắng lợi 30/04/1975, Tỉnh uỷ Tây Ninh lãnh đạo việc tiếp quản toàn bộ địa bàn mới được giải phóng, thành lập các Uỷ ban quân quản từ tỉnh đến xã, đập tan những âm mưu tuyên truyền xuyên tạc phá hoại của địch.

+ Ngày 25/4/1976, cùng với cả nước, nhân dân Tây Ninh hăng hái làm tròn nghĩa vụ và quyền lợi công dân trong cuộc bầu cử Quốc hội, với số cử tri đi bầu chiếm 98,48%. Quốc hội khoá VI kỳ họp thứ nhất quyết định đặt tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng.

+ Đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược do bè lũ Pôn-Pốt gây ra, bảo vệ biên giới Tây Nam: với âm mưu xâm lược chủ quyền và lãnh thổ của nhân dân ta, bè lũ Pôn Pốt được sự xúi giục của thế lực bên ngoài đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở toàn tuyến biên giới Tây Nam của Tổ quốc; rạng sáng ngày 25/4/1977, chúng dùng lực lượng tương đối lớn gồm Sư đoàn 3, 4, Trung đoàn 306 đặc nhiệm và quân địa phương vùng 20, 21, 23 đồng loạt tấn công một số khu vực thuộc hai huyện Bến Cầu và Tân Biên, chúng tiến hành tàn sát, đốt phá, cướp bóc một cách dã man. Tỉnh uỷ Tây Ninh xác định lập trường đấu tranh: nhân dân Campuchia, những người chân chính Campuchia là bạn, nơi nào, bộ phận nào, cá nhân nào, tổ chức nào có chủ trương khiêu khích xâm lấn thì đó là kẻ thù; ngày 07/01/1979 với tinh thần Quốc tế vô sản và theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, lực lượng vũ trang của ta phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia đánh đổ hoàn toàn chế độ diệt chủng Pôn-Pốt.

-     Ổn định tình hình sau chiến tranh biên giới, tiếp tục cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên địa bàn tỉnh (năm 1979 - cuối năm 1985): thời kỳ này do bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đã phạm một số sai lầm, khuyết điểm, nhất là trong vai trò hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, xã hội chậm đổi mới, đã gây khó khăn và làm chậm sự phát triển.

-     Từ năm 1986 - 2005, thực hiện đường lối đổi mới của đảng, cơ chế quản lý từ tập trung quan liêu bao cấp chyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, quyền làm chủ của nhân dân được nâng lên.

-     Giải pháp của Đảng bộ trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh:

+ Trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng bộ luôn nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng địa phương; xây dựng và phát huy cao độ vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng;

+ Xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt chiến tranh nhân dân; phát huy vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh căn cứ địa kháng chiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đảng bộ vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng được xem là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Kết quả đề tài được chuyển giao cho các cơ quan, đơn vị có liên quan phục vụ Đại hội Đảng; giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và thế hệ trẻ trong tỉnh.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018

Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.

Theo nội dung Quyết định, toàn tỉnh có tất cả 91 sáng kiến được đề xuất công nhận sáng kiến cấp tỉnh. Sau khi được hội đồng sáng kiến cấp tỉnh (gọi tắt là Hội đồng) xem xét, đánh giá và đưa ra kết quả đánh giá gồm: 01 sáng kiến đạt loại A (Xuất sắc), 83 sáng kiến đạt loại B (Khá), 04 sáng kiến đạt loại C (Trung bình) và 03 sáng kiến không đạt yêu cầu công nhận là sáng kiến cấp tỉnh.

Được biết, sáng kiến duy nhất đạt loại A là về "Tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tổ chức, phối hợp tổ chức thực hiện việc ứng dụng mạng xã hội Zalo trong tiếp nhận phản ánh kiến nghị và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh". Đây là sáng kiến được đánh giá cao và đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Xem danh sách công nhận sáng kiến tại đây. Cong nhan SKCT 2018_Danh sach.doc

                                                                                                     Ngọc Hà

10/05/2019 3:00 CHĐã ban hànhTin loại 4
Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, cơ quan chủ trì đề tài là Trung tâm nghiên cứu ong Miền Nam được thực hiện bởi Chủ nhiệm đề tài là KS Nguyễn Anh Khoa trong 24 tháng.

Được biết đề tài được thực hiện với mục tiêu  xây dựng và phát triển nghề nuôi ong  tại Tây Ninh theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm có giá trị kinh tế cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Đối tượng nghiên cứu của loài ong mật khá phổ biến hiện nay gồm: ong ngoại (Apis mellifera), ong nội (Apis cerana) và ong dú (Trigona sp). Đồng thời, Đề tài còn xây dựng  02 quy trình kỹ thuật  nuôi ong và phòng trị bệnh cho 02 loài ong mật là ong ngoại và ong dú, xây dựng mô hình nuôi ong.

Bên cạnh đó, hoàn thiện 02 quy trình kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm từ ong mật như mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa ong chúa…

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn đến năm 2020Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn đến năm 2020
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Dương Thành Lam Cơ quan chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao KHCN - Trường Đại học Nông lâm TP.HCM Thời gian thực hiện: 2009 - 2010 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 155,79 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của các nhóm ngành nghề có ứng dụng Công nghệ Sinh học (CNSH) trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tại tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá những cơ hội, thách thức trong việc ứng dụng CNSH của tỉnh.

Xây dựng kế hoạch, giải pháp thực hiện, triển khai các đề tài, dự án phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra thực trạng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Xây dựng chiến lược ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020.

Đề xuất giải pháp thực hiện ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020 .

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh: tình hình nhân sự và cơ sở vật chất của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực CNSH ở tỉnh Tây Ninh hiện nay; những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực CNSH của tỉnh trong 5 năm; hiện trạng ứng dụng CNSH trong các doanh nghiệp sản xuất, các chế phẩm điều trị trong nông nghiệp; nhu cầu và thông tin sản phẩm CNSH trong tỉnh; khả năng cung cấp sản phẩm CNSH trong thời gian tới; khả năng thương mại hóa các sản phẩm CNSH; sơ lược một số thuận lợi khó khăn, cơ hội thách thức của các đơn vị nghiên cứu sản xuất - quản lý - phân phối - tiêu dùng.

+ Qua điều tra 479 phiếu trên các cơ quan ban ngành có liên quan ở 8 huyện khác nhau: cán bộ quản lý có chuyên môn liên quan đến ngành CNSH có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 62,32%; trung học chiếm 25,36%; có 2 cán bộ có trình độ thạc sỹ; còn lại 10,87% chưa qua đào tạo bậc đại học. Nên phát triển ngành CNSH tại Tây Ninh thì trình độ cán bộ quản lý sẽ rất han chế.

Hiện tại, nhân lực chuyên về nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng CNSH đang thiếu, đặc biệt là cán bộ phụ trách các lĩnh vực chăn nuôi thú y, giống cây trồng, xư lý chất thải, nước thải, phòng và chữa bệnh trong nông nghiệp;

+ Trang thiết bị, phòng thí nghiệm toàn tỉnh chỉ có 01 phòng thí nghiệm tại Chi cục Bảo vệ Thực vật Tây Ninh và 01 phòng thí nghiệm ở Trung tâm ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ để sản xuất một số sản phẩm nhằm cung ứng cho nhu cầu thị trường trong tỉnh;

+ Thiếu thốn, lạc hậu, chưa có kế hoạch đầu tư thiết bị cụ thể. Trong khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm công nghệ sinh học (CNSH) trên địa bàn hiện nay là rất lớn, đa số người dân đã có ý thức về việc sử dụng cac sản pham CNSH.

Nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của CNSH trong sự phat triển ở tỉnh Tây Ninh:

+ Trong Nông nghiệp, CNSH đã được ứng dụng chủ yếu trong trồng trọt và chăn nuôi, đạt năng suất chất lượng cao, giảm công lao động, giải quyết các vấn đề về môi trường, phòng và trị bệnh cho gia súc, lai tạo các giống mới;

+ Ngành CNSH đang là một lĩnh vực hấp dan đối với các cán bộ quản lý. Trong tổng số 138 người được hỏi, có 123 người cho rằng ngành hấp dẫn và rất hấp dan chiếm 89,47%;

Những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực CNSH trong tỉnh trong 5 năm trở lại đây:

+ Đạt được một số kết quả đáng khích lệ, góp phần gia tăng mức tăng trưởng bình quân hàng năm, nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi; tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi, chủng vi sinh vật, các chế phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp mới;

Chiến lược ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020.

+ CNSH nông nghiệp sẽ đóng vai trò chủ chốt trong việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa.

+ Tỉnh sẽ xây dựng các cơ sở vật chất trang bị cho việc nghiên cứu CNSH theo chiều sâu vào một số hướng mũi nhọn để giải quyết các vấn đề then chốt trong sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp thực hiện ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020:

+ Rà soát, đánh giá lại thực trạng nguồn nhân lực cũng như khả năng phát triển trong thời gian tới nhằm có chính sách quản lý phù hợp với thực tế; đào tạo chuyên ngành CNSH và tạo cơ chế tuyển dụng, thu hút nhân tài có trình độ;

+ Tổ chức hội thảo “ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” tại tỉnh Tây Ninh để tiếp tục thu nhận những ý kiến đóng góp từ các chuyên gia trong ngành trong và ngoài nước trước khi được Tỉnh Ủy, UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt kế hoạch hành động.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề án được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1581/QĐ-UBND ngày 14/8/2012. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở dữ liệu cho các đề tài, dự án phát triển tiếp theo trong lĩnh vực NN&PTNT của tỉnh; Đề án được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn ứng dụng trong công tác lập kế hoạch, chính sách và đưa các giải pháp định hướng phát triển CNSH một cách cụ thể phù hợp với điều kiện của tỉnh Tây Ninh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Số giấy phép: 02/GP-TTĐT, Sở Thông tin và Truyền thông Tây Ninh cấp ngày 22/09/2021.
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, Tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính:  Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh.
Điện thoại: 0276.3822233 - Email:toweb@tayninh.gov.vn.