Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học - Danh mục các chương trình, đề tài
 
​Ngày 31/8/2022, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Tây Ninh đã ban hành thông báo số 43/TB-KHCN về việc tuyển chọn các tổ chức có hoạt động phù hợp với lĩnh vực của nhiệm vụ KH&CN, có con ...
 
​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành Quyết định số 1787/QĐ-UBND ngày 23/8/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt Danh mục các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2022
 
​Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định Phê duyệt Danh mục tài liệu thuộc hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015
 
​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 24/6/2021 Công nhận 39 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh. 
 
​Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2016
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2018
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2020
 
Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây NinhNghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Hoàng Đức Đạt Cơ quan chủ trì: Viện Sinh học Nhiệt đới Tp. HCM Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 293,255 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định đặc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi; quy trình kỹ thuật nhân giống và các giải pháp bảo tồn 2 nhóm động vật này đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái, tăng giá trị cảnh quan núi Bà Đen nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch sinh thái.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Công tác thực địa.

- Phân tích đặc điểm hình thái, định loại 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi.

- Nghiên cứu dịch tể học của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giá trị dinh dưỡng của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Thực nghiệm sinh sản nhân tạo và nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý 2 loài động vật này tại Núi Bà Đen Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đặc điểm sinh học hai loài Ốc núi (ốc nhọn - Cyclophorus annamiticus Moellendorff, 1874 và ốc bằng-Cyclophorus annamiticus H. Cross, 1867) ở núi Bà đen đều thuộc giống Cyclophorus.

+ Hai loài ốc núi có hình thái ngoài khác nhau, nhưng có cấu tạo hệ cơ quan giống nhau. Chúng là những loài ốc phân tính, tuy nhiên không phân biệt được con đực, con cái bằng hình thái ngoài của vỏ ốc; sự phân biệt dựa vào sự có mặt của cơ quan giao cấu ở con đực.

+ Thức ăn chủ yếu của hai loài ốc này là các loại lá cây (ăn các loại lá cây đã mục, không ăn lá cây xanh tươi) và mùn bã hữu cơ có trong đất. Trong các loại lá thử cho ăn, ốc ưa thích nhất lá cây thuộc họ dâu tằm (Moraceae), họ chuối (Musaceae), họ ráy (Araceae), họ bụp (Malvaceae).

+ Sinh sản của ốc núi: chưa thu được nhiều dẫn liệu liên quan đến quá trình sinh sản của hai loài ốc này; chưa phát hiện được nơi đẻ trứng, ốc non mới nở. Tuy nhiên đã phát hiện được ốc nhọn non rất nhỏ khoảng 3 tháng tuổi (đối chiếu ốc non nuôi thí nghiệm) tại các vườn chuối vào cuối mùa mưa. Như vậy, Ốc nhọn đẻ trứng vào nửa đầu của mùa mưa; cũng đã bắt gặp ốc bằng con nhưng kích thước lớn hơn (trọng lượng khoảng 1g) vào đầu mùa khô. Như vậy, Ốc bằng đẻ trứng vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Hai loài ốc núi sinh trưởng tương đối chậm. Trong nuôi thí nghiệm, ốc bằng con có trọng lượng trung bình ban đầu 1,01g/con sau 20 tháng nuôi đạt 8,6g/con; ốc nhọn từ khi mới nở có trọng lượng trung bình 0,018g/con, sau 19 tháng nuôi đạt 8,75g/con. Trọng lượng khai thác ốc nhọn trung bình 10,05 ± 0,33g/con; Trong lượng khai thác ốc bằng trung bình 9,96 ± 0,23g/con.

+ Hai loài ốc núi ở núi Bà Đen trưởng thành sinh dục vào năm thứ ba của đời sống; chúng giao phối trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10, tuy nhiên đẻ rộ từ nửa cuối tháng 6 đến tháng 7. Trứng ốc nhọn có dạng hình cầu, đường kính 4,5mm (mỗi ốc cái đẻ từ 6-14 trứng) vùi trong đất mùn, sau khoảng 01 tháng ốc con nở ra (trọng lượng bình quân 0,018g/con), ốc con sống trong lớp mặt của đất mùn, lá mục.

+ Loài Ốc bằng phân bố hẹp có thể là loài đặc hữu của núi Bà đen Tây Ninh. Nhân giống thành công loài Ốc nhọn, trong hai mùa sinh sản đã thu được 6.833 ốc con, trung bình trong một mùa sinh sản một ốc cái sinh sản được 15 ốc con.

+ Trong quá trình thí nghiệm nuôi 2 loài ốc núi cho thấy: loài ốc nhọn sinh sản rất tốt trong điều kiện nuôi thí nghiệm, có thể phát triển nuôi loài này nhằm giảm cường độ khai thác ốc ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học của núi Bà đen.

- Thằn lằn núi ở núi Bà đen Tây Ninh là Gekko ulikovskii Darevsky und Orlov, 1994 thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae), bộ có vảy (squamata), tên phổ thông: tắc kè hoa cân (tên địa phương: thằn lằn núi).

+ Thằn lằn núi là loài ăn tạp, có phổ thức ăn rộng gồm nhiều loài động vật và thực vật khác nhau; độ no của thằn lằn trong mùa khô lớn hơn mùa mưa, ở con cái lớn hơn con đực và con non; địch hại ngoài thiên nhiên của chúng là chồn, khỉ, chuột, rắn, kỳ đà, bìm bịp.

+ Mùa sinh sản của thằn lằn núi ngoài thiên nhiên kéo dài từ tháng 11 đến tháng 02 năm sau, mỗi lứa đẻ thường có hai trứng đính trên vách hay kẻ đá; thằn lằn núi không mang vi sinh vật gây bệnh cho người; tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây của chúng tương đối thấp.

+ Trong điều kiện nuôi thí nghiệm, thức ăn của thằn lằn gồm trái cây chín, côn trùng, cào cào non, sâu bọ; thằn lằn núi đẻ trứng chủ yếu đẻ trứng từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau, số trứng mỗi lứa là 02, nở dao động từ 61 - 85 ngày, trứng được đẻ trong kẻ đá và ống tre.

+ Tỷ lệ đẻ của thằn lằn núi là 22.5% ở mùa đẻ 2004 - 2005 và 62.2% ở mùa đẻ 2005 - 2006, tỷ lệ trứng nở đạt 50% và 67.3% ở 2 mùa đẻ; con mới nở có trọng lượng 1,08g/con, dài 36,1mm.

- Các dẫn liệu sinh học, dịch tể học, thành phần chất dinh dưỡng của Ốc núi và Thằn Lằn núi. Quy trình sinh sản nhân tạo, nhân giống Ốc núi giống 3 tháng tuổi trở lên (cho 2 loài). Quy trình sinh sản nhân tạo, Thằn lằn núi giống 3 tháng tuổi trở lên.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến Công ty Du lịch Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh làm tư liệu xây dựng quy hoạch phát triển ngành và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, đánh giá tỷ lệ tổn thương tiền ung thu, ung thư cổ tư cung (CTC), đề xuất giải pháp phòng và điều trị trên địa bàn tỉnh Tây NinhĐiều tra, đánh giá tỷ lệ tổn thương tiền ung thu, ung thư cổ tư cung (CTC), đề xuất giải pháp phòng và điều trị trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS.BS. Phan Hồng Vân và BS.CKI. Phạm Thị Hạnh Cơ quan chủ trì: Trung tâm y tế Dự phòng Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 467,3475 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Xác định tỷ lệ tổn thương tiền ung thu, ung thư cổ tử cung (CTC) bằng phết mỏng, soi, sinh thiết CTC và một số yếu tố liên quan trên phụ nữ 18 - 65 tuổi, đề xuất giải pháp phòng và điều trị trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Xác định tỷ lệ Pap smear bất thường, tỷ lệ tổn thương tiền ung thư, ung thư CTC ở phụ nữ từ 18 - 65 tuổi đã có chồng sống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Xác định tỷ lệ phụ nữ hiểu biết đúng về tầm soát ung thư CTC: về lý do đi khám phụ khoa, về lợi ích của tầm soát ung thư CTC, về những yếu tố nguy cơ, cách phòng ngừa, và phương pháp phát hiện sớm ung thư CTC.

-  Xác định mối liên quan giữa Pap smear bất thường, tổn thương tiền ung thư, ung thư CTC với các yếu tố: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi lập gia đình, mức thu nhập, số lần có thai, số lần sanh, số lần hút nạo, sẩy thai, phương pháp ngừa thai, tiền căn viêm âm đạo, khám phụ khoa, làm Pap smear và kiến thức đúng về tầm soát ung thư CTC của đối tượng nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Khảo xác địa bàn nghiên cứu trên 30 xã, phường và chọn ra 1.500 phụ nữ tham gia nghiên cứu, mỗi xã 50 phụ nữ.

-  Triển khai nghiên cứu: phỏng vấn, khám phụ khoa, làm Pap Smear, soi CTC, nạo kênh CTC và bấm sinh thiết CTC.

-  Thu thập và xử lý số liệu.

-  Đề xuất giải pháp phòng và điều trị.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu 1.500 phụ nữ tuổi từ 18 - 65 tuổi đã có gia đình thuộc 30 cụm của 9 huyện, thị trong tỉnh, thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp và khám phụ khoa lấy mẫu xét nghiệm Pap smear, kết quả đạt tỷ lệ 100% so với dự kiến ban đầu;

-  Phụ nữ trong mẫu nghiên cứu phần lớn là dân tộc Kinh, có mức thu nhập bình quân thấp dưới một triệu đồng trong một tháng chiếm 20,47%; từ một triệu đồng đến ba triệu đồng trong một tháng là 63,4%; lớn hơn ba triệu đồng trong một tháng là 16,13%;

-  Trình độ học vấn, từ cấp 2 trở xuống chiếm 77,7%; tốt nghiệp cấp 3 trở lên chiếm 22,3%. Vấn đề này, chúng ta cần lưu ý để công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao sự hiểu biết của họ đối với tầm soát ung thư CTC hiệu quả hơn;

-  Nghề nghiệp, đa số làm ruộng, nội trợ, buôn bán, làm thuê, thất nghiệp chiếm 72,67%; công nhân viên và nghề khác chiếm 27,33%;

-  Tình trạng hôn nhân, tuổi lập gia đình: phụ nữ đang sống với chồng hay người khác phái như vợ chồng chiếm 90,6%. Phụ nữ ly thân, ly dị, goá chiếm 9,4%; tuổi lập gia đình lần đầu ≤19 tuổi chiếm 22,1%, lập gia đình >19 tuổi chiếm 77,9%. Tuổi lập gia đình nhỏ nhất là 16 tuổi, lớn nhất là 49 tuổi.

-  Phụ nữ nạo sẩy thai ≤3 lần chiếm 99,7%, > 3 lần chiếm 0,3%; phụ nữ nạo hút thai ≤ 3 lần chiếm 79,7%, > 3 lần chiếm 20,3%; không áp dụng biện pháp tránh thai nào chiếm 42,3%, đang áp dụng biện pháp tránh thai chiếm 57,7%; có số lần sanh ≤2 lần chiếm 70,4%, > 2 lần chiếm 29,6%; có thai ±2 lần chiếm 45,7%, >2 lần chiếm 54,3%.

-  Bảng số liệu phân tích chính xác, khoa học có so sánh với các tài liệu nghiên cứu khác.

+ Tỷ lệ Pap smear bất thường là 1% phần lớn là 07 trường hợp ASCUS, AGUS, 07 trường hợp là LSIL và một trường hợp là carcinom tế bào tuyến.

+ Tỷ lệ tổn thương tiền ung thư, ung thư cổ tử cung là 0,47% gồm: CINIII có 04 trường hợp (0,26%) và CINI có 03 trường hợp (0,2%).

+ Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về tầm soát ung thư cổ tử cung là 33,9%.

+ Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Pap smear với tuổi, tuổi lập gia đình, tình trạng hôn nhân, số lần sanh, số lần có thai, phương pháp ngừa thai, số lần nạo sẩy thai p< 0,05. Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Pap smear nghề nghiệp, học vấn, nạo hút thai, tiền căn viêm âm đạo, tiền căn làm Pap smear, khám phụ khoa p> 0,05.

+ Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi lập gia đình, số lần sanh, nguồn cung cấp thông tin, tiền căn làm Pap smear, khám phụ khoa, tiền căn viêm âm đạo p< 0,05. Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với tình trạng hôn nhân và phương pháp ngừa thai p> 0,05.

- Giải pháp phòng và điều trị: thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe; đào tạo tập huấn cho Bác sĩ, nữ hộ sinh của các Trung tâm Y tế trong toàn tỉnh về kỹ thuật làm Pap smear, đọc Pap smear, soi CTC, sinh thiết, nạo kênh CTC; lồng ghép chương trình tầm soát ung thư CTC vào các chương trình khác (kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc bà mẹ và trẻ em,...).

+ Tất cả các phụ nữ sau khi đã lập gia đình từ 18 tuổi đều phải được tư vấn khám phụ khoa định kỳ, làm xét nghiệm Pap smear hàng năm để tầm soát ung thư CTC tại các cơ sở y tế cho đến tuổi 65;

+ Phòng ngừa ung thư CTC có 2 giai đoạn, giai đoạn cảm nhiễm là dự phòng cấp I tiêm ngừa vaccine HPV và dự phòng cấp II là làm Pap smear phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư, ung thu CTC.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 04/01/2012. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Trung tâm Y tế huyện Hòa Thành triển khai đến các Trung tâm Y tế huyện, thị, các Trạm Y tế xã/phường trong tỉnh tăng cường công tác nghiên cứu phòng và điều trị ung thư CTC, một số kết quả đạt được như sau:

-  Tập huấn các Bác sĩ, cử nhân hộ sinh và nữ hộ sinh công tác khám và điều trị sản phụ khoa trong tỉnh: Trung tâm chăm sóc sức khoẻ, khoa sản Bệnh viện đa khoa, khoa phụ sản - Chăm sóc sức khoẻ sinh sản của các Trung tâm y tế trong tỉnh.

-  Đào tạo kỹ thuật chuyên môn sâu về sản phụ khoa cho các BS - CNHS- NHS của các trung tâm y tế trong toàn tỉnh: tham gia các lớp soi cổ tử cung 22 người và lớp xét nghiệm Pap smear 22 người tại (Bệnh viện Từ Dũ);

-  Đào tạo lại kỹ thuật chuyên môn - chuẩn bị triển khai việc thực hiện làm Pap smear cho phụ nữ tại các trung tâm y tế trong toàn tỉnh: mở 04 lớp, mỗi lớp 01 ngày, số lượng 240 người tại Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ sinh sản tỉnh.

-  Mở phòng tư vấn: bệnh viện tỉnh, Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Trung tâm y tế huyện, Trạm y tế xã phường; kết hợp với phòng kế hoạch hoá gia đình - Chăm sóc bảo vệ Bà mẹ và trẻ em của các trung tâm y tế trong tỉnh.

Thông tin tuyên truyền trên đài truyền hình, truyền thanh mỗi quý một lần/năm.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thực trạng và giải pháp phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Tây NinhThực trạng và giải pháp phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Võ Hoàng Khải Cơ quan chủ trì: Trường Chính Trị Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 205,45 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

            MỤC TIÊU

-  Đánh giá thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong 10 năm (1998 - 2008).

-  Đề xuất và áp dụng những giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tình hình mới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Điều tra xã hội học (XHH) các điểm điển hình.

-  Thu thập số liệu ở các huyện, thị xã để xây dựng số liệu thống kê.

-  Xử lý các phiếu điều tra XHH bằng phần mềm SPSS.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Cơ sở lý luận về quyền dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn:

+ Đảng ta xác định: “để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước” và đề ra nhiệm vụ trọng tâm: “khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở”.

+ Trong điều kiện hiện nay, cấp cơ sở là mắt xích yếu nhất trong hệ thống chính trị, hệ thống Nhà nước ta hiện nay. Nhiều vấn đề nổi cộm, tiêu cực đang tiềm tàng, những nơi nổ ra “điểm nóng” cũng xuất phát từ cơ sở. Ở cơ sở dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng, nạn tham ô, tham nhũng, ức hiếp nhân dân diễn ra tràn lan kéo dài mà chưa có quy phạm pháp luật cụ thể, chưa được quan tâm đúng mức có phần lỏng lẻo và không sâu sắc.

-  Cơ sở pháp lý của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn:

+ Thực hiện chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị; UBTVQH ban hành Nghị quyết số 45/1998/TVQH10 ngày 26/02/1998; Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”.

+ Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy chế của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư.

-  Thực trạng triển khai và thực hiện quy chế dân chủ ở xã:

+ Tổng số 436 phiếu phân tích số 1 (phiếu dùng cho cán bộ chủ chốt ở xã, phường, thị trấn), kết quả thực hiện quy chế dân chủ của chính quyền địa phương đưa ra vấn đề có liên quan đến quyền lợi của nhân dân: có 93,8% ý kiến người được hỏi về chủ trương và mức độ đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi tại cơ sở hạ tầng; xây dựng quy ước cộng đồng dân cư có 91,1%; các công việc tự quản khác là 93,3% đều xác nhận đã làm tốt công việc này.

+ Tổng số 403 phiếu phân tích số 2 (phiếu dùng cho trưởng thôn, bí thư chi bộ, cán bộ mặt trận ấp, khu phố), kết quả triển khai quy chế dân chủ: số được tiếp nhận học tập Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (chiếm 72,9%); Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 07/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (chiếm 82,5%); Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 20/4/2007, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (chiếm 83,8%); số nơi họp dân đạt yêu cầu theo quy định của quy chế đạt 71,6%.

+ Tổng số 409 phiếu phân tích số 3 (phiếu điều tra hộ dân cư) về tình hình nhân dân tiếp nhận quy chế dân chủ, người được hỏi cho biết: người được phổ biến và biết về quy chế này chiếm 86,6%; người chưa được biết chiếm 9,8%; về việc họp dân, số người tham dự họp 1 lần/năm là 4,4%, 2 lần là 23%, 3 lần là 66,3%, 4 lần là 2,4%; số người thường xuyên dự họp chiếm 9,7%.

-  Qua thực hiện quy chế dân chủ, đại bộ phận nhận thấy quyền và lợi ích của mình, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện trên thực tế. Có 95/95 xã, phường, thị trấn trong tỉnh tổ chức triển khai và có chương trình, kế hoạch thực hiện ở cơ sở khá tốt.

-  Tuy nhiên, ở một số cấp xã vẫn còn hạn chế và bộc lộ những khiếm khuyết cần sửa đổi bổ sung và hoàn thiện: tham nhũng, lãng phí chưa được xử lý một cách triệt để, gây ảnh hưởng nhiều đến thực thi dân chủ; nhiều địa phương hằng năm không có tổ chức kiểm tra, kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện quy ước.

-  Giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tình hình mới: đẩy mạnh việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ xã, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy xã, đôn đốc việc thực hiện quy chế dân chủ; tăng cường việc đối thoại hai chiều và nhiều chiều giữa bộ máy quản lý với người dân; thực hiện quy chế dân chủ gắn với công tác cải cách hành chính theo mô hình một cửa; 100% công việc liên quan đến dân đều được công khai niêm yết quy trình, thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý hành chính.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1130/QĐ-UBND, ngày 02/6/2011. Kết quả đề tài được tổ chức triển khai trong năm 2012 cho 8/9 huyện, thị xã trong tỉnh với số lượng 75 học viên/lớp/ huyện.

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Đờn ca tài tử Nam Bộ ở Tây NinhSưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Đờn ca tài tử Nam Bộ ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Hồng Tăng Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Thông tin Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2009 Thời gian nghiệm thu: năm 2010 Kinh phí thực hiện: 197,64 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xác định quá trình hình thành và phát triển Đờn ca tài tử (ĐCTT) và những giá trị văn hóa của nó để có thêm những cứ liệu khoa học về lịch sử phát triển văn hóa xã hội ở Tây Ninh.

-     Đề xuất định hướng và những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật ĐCTT, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa địa phương theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Khái quát về Đờn ca tài tử Nam Bộ.

-     Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Đờn ca tài tử Nam bộ ở Tây Ninh.

-     Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ninh.

-     Định hướng quản lý và các giải pháp bảo tồn, phát huy Đờn ca tài tử ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, Tây Ninh vừa có những đặc điểm chung của khu vực, lại vừa có những nét riêng của địa phương.

-     Về phong trào và cách tổ chức: Tây Ninh là tỉnh duy trì tốt nhất phong trào ĐCTT với hệ thống các CLB, Đội, nhóm ĐCTT đông đảo và hoạt động thường xuyên ở cơ sở; được các trung tâm văn hóa của huyện, thị, xã, phường tập hợp, quản lý và tạo mọi điều kiện để hoạt động. Tuy nhiên, Tây Ninh chưa có được những chính sách, chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân ĐCTT tiêu biểu như một vài tỉnh trong khu vực.

+ Trên địa bàn 9 huyện thị, các trung tâm văn hóa huyện, thị, xã, phường đều thành lập câu lạc bộ (CLB) ĐCTT hoặc ĐCTT- Cải lương; có khoảng 65 CLB sinh hoạt tại các Trung tâm Văn hóa và 40 đội, nhóm sinh hoạt ngoài nhân dân.

+ ĐCTT Tây Ninh tồn tại dưới 2 dạng: sinh hoạt ngẫu nhiên, sinh hoạt tự giác; và có thể tự hào vì đã có những nhạc sư, những nghệ nhân, nghệ sĩ đã làm nên diện mạo ĐCTT Nam Bộ.

+ Tây Ninh hiện có hơn 200 nghệ nhân có chuyên môn cao và hàng ngàn người chơi ĐCTT thường xuyên, tập trung ở các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Hòa Thành, Thị xã Tây Ninh.

-     Về bài bản: ĐCTT có 20 bài bản tổ (3 Nam, 6 Bắc, 7 Lễ, 4 Oán) và hàng trăm bài biến thể; khi mới hình thành, nhóm ĐCTT miền Đông và miền Tây có một số khác biệt trong bài bản, hòa đàn.

+ Tây Ninh có Tòa Thánh Cao Đài đã chọn nhạc lễ Nam Bộ và ĐCTT làm nguồn “âm nhạc tôn giáo” của Cao Đài; với biểu diễn nghiêm túc, chính xác, chuẩn mực trong dàn nhạc và bài bản tài tử, đã tạo nên một phong cách chơi đặc trưng ở Tây Ninh

-     ĐCTT trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ninh: ĐCTT là loại hình nghệ thuật đặc trưng, món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ trong đó có Tây Ninh, gắn liền qua các giai đoạn lịch sử và có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (trong giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, hội nhập và phát triển).

-     Tuy nhiên về chất lượng (ca, đàn đúng phong cách tài tử không nhiều) nên cần phải tiếp tục kế thừa, bổ sung những cái mới, phong phú hơn, sinh động hơn.

-     Giải pháp của sự bảo tồn và phát huy phong trào ĐCTT Tây Ninh: vận động đổi mới trong phương thức hoạt động để thích nghi với văn hóa thời hội nhập và phát triển; khuyến khích phong tặng danh hiệu nghệ nhân, hoặc Kỷ niệm chương... vì sự nghiệp văn hóa quần chúng; tăng cường giáo dục âm nhạc truyền thống; đào tạo nâng cao chất lượng “truyền nghề” ĐCTT; đặc biệt Nhà nước còn định hướng, tạo ra môi trường pháp lý, trang bị cơ sở vật chất cho ĐCTT.

+ Tạo điều kiện, sân chơi cho hoạt động ĐCTT cơ sở, thuộc các bộ môn như: liên hoan ĐCTT - Cải lương, liên hoan Giọng hát hay - Tay đờn giỏi, liên hoan Nhạc lễ - Trò lễ, liên hoan các CLB - Đội nhóm ĐCTT; mở rộng đối tượng tham gia (khuyến khích lực lượng trẻ, tổ chức ở nhiều cấp); mời nhạc sư, nghệ sĩ ĐCTT nổi tiếng làm giám khảo để đánh giá, phân tích chất lượng, cung cấp thêm kiến thức cho các Đội.

+ Phổ biến các điệu thức căn bản của ĐCTT, giới thiệu các CLB, Đội, nhóm ĐCTT ở địa phương, giới thiệu những tay đàn giỏi, giọng ca độc đáo giao lưu nghệ nhân và bạn xem đài; phát huy tài năng cả về sáng tác lẫn biểu diễn.

+ Chế độ hỗ trợ đối với CLB.ĐCTT, đãi ngộ đối với nghệ nhân ĐCTT: thể hiện sự trân trọng đối với các nghệ nhân bằng cách phong tặng danh hiệu, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng”, hướng họ vào mục đích xã hội, trong đó việc “truyền nghề” cho thế hệ trẻ và tổ chức biểu diễn.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 29/3/2010;

-     Ngành Văn hóa Thông tin sử dụng kết quả nghiên cứu để làm căn cứ đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển đờn ca tài tử trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt là cung cấp tư liệu cho tủ sách địa chí của Thư viện Tây Ninh, Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam;

-     Chuyển giao kết quả cho ngành Du lịch đưa ĐCTT vào các chương trình du lịch văn hóa trong các tour du lịch ở Tây Ninh.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lão nông Lê Văn Dĩ trong vườn rau thơm xen rau rừng phủ lưới che.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tây Ninh lần thứ 10 năm 2016-2017 do Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) chủ trì phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Tuy số lượng có giảm so với Hội thi lần thứ 9, năm 2014-2015 (110 so với 163 giải pháp), nhưng điểm nổi bật là các mô hình/giải pháp đoạt giải thưởng đều thể hiện được tính mới mẻ, sáng tạo, đặc biệt là tính ứng dụng cao, có khả năng giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lao động sản xuất và công tác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành chụp ảnh lưu niệm trong đợt tham quan, khảo sát giải pháp “Máy trồng mì” của cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải.

Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông có 5 giải pháp dự thi. Trong những kỳ hội thi trước đây, số giải pháp dự thi ở lĩnh vực này không nhiều, người dự thi hầu hết là cán bộ thuộc Sở Thông tin - Truyền thông và ngành Giáo dục - Ðào tạo. Cả 2 giải pháp đoạt giải lần này đều là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Giải pháp “Ứng dụng ngôn ngữ lập trình C vào Kit arduino góp phần nâng cao năng lực hợp tác của sinh viên ngành CNTT” của nhóm giảng viên Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh (Trần Phong Vũ, Công Tôn Nữ Lương Thành, Ðặng Văn Tráng); tuy thiết bị Arduino không mới nhưng việc ứng dụng ngôn ngữ lập trình C là sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm “Thiết bị tưới thông minh dành cho hệ thống thuỷ canh ghép động-tĩnh”, tạo hứng thú học tập cho sinh viên và có được sản phẩm thực tế phục vụ giảng dạy.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Dàn bón phân định lượng của Phạm Văn Hùng (Tân Châu).

Lĩnh vực “Công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải” có 35 giải pháp dự thi và tất cả đều là giải pháp công nghiệp (không có xây dựng và giao thông vận tải). Hầu hết các giải pháp là cải tiến, sáng chế thiết bị phục vụ nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong sản xuất và đời sống; nhiều tác giả đoạt giải ở lĩnh vực này đã từng có giải cao ở những kỳ hội thi trước đây như: Phạm Văn Hùng (cơ sở cơ khí Tư Hùng ở Tân Châu), Trần Quốc Hải (cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải- Tân Châu), Trịnh Thành Nghiêm (Công ty cổ phần Cấp thoát nước Tây Ninh)…

Giải pháp “Sáng chế dụng cụ gắn máng che mưa trên cây cao su” của Trần Văn Long- công nhân Nông trường Cao su Tân Biên có chi phí chế tạo thấp, lại vận hành dễ dàng và hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong toàn ngành cao su. Còn giải pháp “Cải tiến xe vận chuyển mủ thành xe chữa cháy trên vườn cao su” của Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi có thể giải quyết được vấn đề phòng cháy chữa cháy (PCCC) tại chỗ của đơn vị, và có khả năng áp dụng rộng rãi trong các nông trường cao su cũng như các vườn cây lớn, các khu vực rừng tự nhiên và khu dân cư.

Trong khi đó, giải pháp “Máy trồng mì” và “Máy thu hoạch khoai mì” của Trần Quốc Hải đã hoàn chỉnh quy trình “cơ giới hoá cây mì” với hiệu quả cao khi thử nghiệm ở Tây Ninh, Bình Phước và Campuchia (máy đã được bán hơn 50 chiếc cho nông dân các tỉnh). Giải pháp “Máy trộn và sấy muối ớt” của Nguyễn Quốc Thái ở xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành lại là một sáng tạo có tính năng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu sản xuất đặc sản muối ớt tôm ở Tây Ninh.

Giải pháp “Dàn bón phân định lượng” của Phạm Văn Hùng (Tân Châu) đáp ứng nhu cầu bón phân cho những cây trồng cách khoảng (cây cao su non, cây ăn quả…) làm giảm thất thoát phân bón, tăng khả năng hấp thụ cho cây trồng (máy đã được bán ra thị trường hơn 30 chiếc).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài và một trong những chiếc xe PCCC từ sáng kiến của ông

 

ĩnh vực vật liệu, hoá chất, năng lượng có 5 giải pháp dự thi. “Xử lý sắt và mangan trong nước ngầm không sử dụng hoá chất” của nhóm tác giả Trịnh Thành Nghiêm, Nguyễn Lan Ðình, Nguyễn Văn Hùng thuộc Công ty cổ phần Cấp thoát nước tỉnh ứng dụng công nghệ của Công ty PERNAM cho 2 trạm cấp nước huyện Bến Cầu và Châu Thành, giúp công ty tiết kiệm được chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cũng như giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình xử lý và vận hành hệ thống với nguồn nước thô là nước ngầm; chất lượng nước sau khi xử lý và cung cấp bảo đảm đạt quy chuẩn nước sinh hoạt.

Nông lâm thuỷ sản, tài nguyên và môi trường là lĩnh vực tập trung nhiều giải pháp nhất (40) với hầu hết các tác giả là nông dân. “Nuôi trồng bon sai trong môi trường nước” là giải pháp dự thi của nhóm tác giả thuộc Hội Sinh vật cảnh Tây Ninh (gồm Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quốc Phương và Trần Hoài Ân) mở ra hướng mới cho người kinh doanh, nuôi trồng sinh vật cảnh, thúc đẩy sự phát triển ngành sinh vật cảnh Tây Ninh.

Còn giải pháp “Trồng rau thơm xen rau rừng phủ lưới che” của tác giả Lê Văn Dĩ- Chủ nhiệm Tổ hợp tác rau rừng VietGAP ấp Lộc Trát, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng đưa ra mô hình kết hợp trồng rau trong lưới che, hạn chế được sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất và chất lượng rau; đặc biệt là thuần dưỡng được rau rừng trên diện tích đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.

Mô hình “Nuôi dơi lấy phân cho hiệu quả kinh tế cao” của Phạm Kim Liên và Lê Thu Thuỷ ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu lại phổ biến quy trình nuôi dơi lấy phân để bán, kết hợp phục vụ sản xuất cây trồng trên diện tích đất nuôi dơi, mang đến hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long tạo tán cho cây- một khâu trong mô hình “Nuôi trồng bonsai trong môi trường nước”.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có 25 giải pháp, được tuyển chọn từ các sáng kiến của các trường trong tỉnh. Giải pháp “Xây dựng cấu trúc đề kiểm tra môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” của tác giả Tạ Xuân Thơ- giáo viên Trường THPT Tây Ninh giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, trong khi “Khảo sát truyện dân gian Tây Ninh” của tác giả Hà Thị Thới - giảng viên Trường CÐSP Tây Ninh, là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện dân gian- nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hội thi lần này, ban tổ chức đã xét chọn 10 giải pháp (trong số 18 giải pháp đoạt giải Nhì và giải Ba) đưa đi tham dự Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2016-2017 (chưa công bố kết quả).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Chị Phạm Kim Liên và mô hình “Nuôi dơi lấy phân” cho hiệu quả kinh tế cao.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật tỉnh Tây Ninh lần này tiếp tục khẳng định đây là nơi hội tụ, phát huy tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy phong trào quần chúng tiến công vào khoa học kỹ thuật. Ðối tượng tham gia khá đa dạng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Ðiều đáng tiếc là Hội thi phát động 6 lĩnh vực nhưng chỉ có 5 lĩnh vực có giải pháp dự thi, còn lại lĩnh vực y dược không có giải pháp nào.

Riêng 2 lĩnh vực: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và vật liệu, hoá chất, năng lượng còn ít giải pháp dự thi (mỗi lĩnh vực chỉ có 5). Và số lượng giải pháp tham gia Hội thi tổng cộng cũng chỉ có 110- chưa tương xứng với tiềm năng trong tỉnh. Còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm việc vận động cán bộ, công nhân tham gia Hội thi.

Hội thi lần này cũng không có giải pháp dự thi từ lực lượng đoàn viên thanh niên. Với ngành Y tế, tuy hằng năm đều có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở, nhưng lại không có giải pháp nào tham gia Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật.

Theo Báo Tây Ninh Online

05/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
Chỉnh lý và biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 – 2005)Chỉnh lý và biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 – 2005)
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Minh Trọng Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2010 Thời gian nghiệm thu: 2010 Kinh phí thực hiện là: 215,31 triệu đồng (hỗ trợ kinh phí) Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Bổ sung tư liệu 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, 20 năm (1975 - 1995) cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

-     Tổng kết thực tiễn 10 năm (1995 - 2005) những mặt làm được và chưa làm được của chặng đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

-     Đề ra những biện pháp, hướng đi thích hợp đúng với đường lối của Đảng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Biên soạn nội dung các thời kỳ lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

-     Phỏng vấn các nhân chứng lịch sử để thu thập tư liệu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tập sách lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 - 2005).

-     Quá trình thành lập Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, Đảng bộ lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng (1930 - 1945).

+ Đầu năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập, Tây Ninh là tỉnh tiếp giáp với các tỉnh có phong trào cộng sản hoạt động mạnh như Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, ảnh hưởng của Đảng bắt đầu lan rộng đến Tây Ninh. Đồng chí Võ Văn Lợi từ Bà Điểm (Hóc Môn) lên Giồng Nần (Châu Thành), vừa sinh sống, vừa tuyên truyền giác ngộ quần chúng.

+ Những năm 1936 - 1939, mặt trận nhân dân Pháp với Đảng Cộng Sản Pháp làm nòng cốt giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Từ đây, cùng với cả nước, phong trào cách mạng ở Tây Ninh được nhen nhóm trở lại dưới dạng đấu tranh công khai.

+ Tháng 4/1945, các đảng viên ở xã Thanh Điền bắt đầu tổ chức cơ sở Việt Minh và dần dần phát triển sang các xã khác; chiều ngày 24/08/1945, lực lượng quần chúng đầu tiên từ vùng Bến Cầu tiến về xã Thanh Điền; sáng sớm ngày 25/08/1945, từ xã Thanh Điền các đồng chí đảng viên mang súng ngắn dẫn đầu đội ngũ rầm rập tiến vào sân vận động thị xã; sáng hôm sau, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thị trấn.

-     Đảng bộ Tây Ninh lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (1945 - 1954).

+ Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, từ tiếng súng đầu tiên ở Suối Sâu ngày 8/11/1954 đến kết thúc cuộc kháng chiến tháng 7/1954, chiến trường Tây Ninh là một trong những khó khăn nhất của “miền Đông gian lao mà anh dũng”; chúng áp dụng chính sách “tam ngang” (giết sạch, đốt sạch, phá sạch) và dùng đủ các loại vũ khí tối tân nhằm triệt phá vùng căn cứ kháng chiến. Để giành thắng lợi, Đảng bộ và Uỷ ban kháng chiến - Hành chính Tây Ninh đã chỉ đạo mặt trận và các đoàn thể vận động tổ chức chăm lo cuộc sống cho nhân dân;

+ Từng bước thống nhất các lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân: chủ lực, bộ đội địa phương và du kích lớn mạnh; tổ chức giáo dục lập trường quan điểm quần chúng và luôn giữ vững tinh thần cách mạng tiến công, vừa đánh địch tại địa phương, vừa bảo vệ căn cứ địa kháng chiến.

-     Thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).

+ Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và quân dân Tây Ninh lại đứng trước những khó khăn gian khổ và ác liệt hơn; ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến (1954 - 1960) chính quyền Ngô Đình Diệm với những thủ đoạn thâm độc nhất ra sức đàn áp các lực lượng yêu nước, tiêu diệt ý chí độc lập thống nhất nước nhà. Với tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương (01/1959) đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên bằng chiến thắng Tua Hai (01/1960).

+ Sau thất bại chiến lược “chiến tranh một phía”, đế quốc Mỹ thực hiện các chiến lược “chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam. Với sự lãnh đạo sáng suốt về đường lối của Đảng, Trung ương Cục, Quân uỷ, Tỉnh uỷ với nhiều nghị quyết đúng đắn. Nên quân dân Tây Ninh đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, bẻ gãy các chiến lược chiến tranh tàn bạo của Đế quốc Mỹ.

+ Trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến trường, Đảng bộ đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa địch - ta tại tỉnh và từng khu vực, từng huyện để vận dụng được sức mạnh tổng hợp và thực hiện phương chăm đánh địch bằng hai chân, ba mũi, phối hợp chặt chẽ 3 thứ quân. Qua mỗi lần gặp khó khăn, Đảng bộ nghiêm túc rút kinh nghiệm, nghiêm khắc phê bình và tự phê bình, sửa chữa để vươn đến giành thắng lợi hoàn toàn bằng chính lực lượng của tỉnh, góp phần giải phóng Sài Gòn - Gia Định trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

- Khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu ổn định đời sống của nhân dân, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc (1975 - 1979).

+ Sau thắng lợi 30/04/1975, Tỉnh uỷ Tây Ninh lãnh đạo việc tiếp quản toàn bộ địa bàn mới được giải phóng, thành lập các Uỷ ban quân quản từ tỉnh đến xã, đập tan những âm mưu tuyên truyền xuyên tạc phá hoại của địch.

+ Ngày 25/4/1976, cùng với cả nước, nhân dân Tây Ninh hăng hái làm tròn nghĩa vụ và quyền lợi công dân trong cuộc bầu cử Quốc hội, với số cử tri đi bầu chiếm 98,48%. Quốc hội khoá VI kỳ họp thứ nhất quyết định đặt tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng.

+ Đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược do bè lũ Pôn-Pốt gây ra, bảo vệ biên giới Tây Nam: với âm mưu xâm lược chủ quyền và lãnh thổ của nhân dân ta, bè lũ Pôn Pốt được sự xúi giục của thế lực bên ngoài đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở toàn tuyến biên giới Tây Nam của Tổ quốc; rạng sáng ngày 25/4/1977, chúng dùng lực lượng tương đối lớn gồm Sư đoàn 3, 4, Trung đoàn 306 đặc nhiệm và quân địa phương vùng 20, 21, 23 đồng loạt tấn công một số khu vực thuộc hai huyện Bến Cầu và Tân Biên, chúng tiến hành tàn sát, đốt phá, cướp bóc một cách dã man. Tỉnh uỷ Tây Ninh xác định lập trường đấu tranh: nhân dân Campuchia, những người chân chính Campuchia là bạn, nơi nào, bộ phận nào, cá nhân nào, tổ chức nào có chủ trương khiêu khích xâm lấn thì đó là kẻ thù; ngày 07/01/1979 với tinh thần Quốc tế vô sản và theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, lực lượng vũ trang của ta phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia đánh đổ hoàn toàn chế độ diệt chủng Pôn-Pốt.

-     Ổn định tình hình sau chiến tranh biên giới, tiếp tục cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên địa bàn tỉnh (năm 1979 - cuối năm 1985): thời kỳ này do bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đã phạm một số sai lầm, khuyết điểm, nhất là trong vai trò hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, xã hội chậm đổi mới, đã gây khó khăn và làm chậm sự phát triển.

-     Từ năm 1986 - 2005, thực hiện đường lối đổi mới của đảng, cơ chế quản lý từ tập trung quan liêu bao cấp chyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, quyền làm chủ của nhân dân được nâng lên.

-     Giải pháp của Đảng bộ trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh:

+ Trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng bộ luôn nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng địa phương; xây dựng và phát huy cao độ vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng;

+ Xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt chiến tranh nhân dân; phát huy vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh căn cứ địa kháng chiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đảng bộ vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng được xem là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Kết quả đề tài được chuyển giao cho các cơ quan, đơn vị có liên quan phục vụ Đại hội Đảng; giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và thế hệ trẻ trong tỉnh.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ứng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnhỨng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Trịnh Đình Bình và KS. Nguyễn Văn Hùng. Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 165,812 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá.

 

MỤC TIÊU

- Ứng dụng công nghệ EM vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải chế biến khoai mì, cao su.

- Xây dựng quy trình công nghệ sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm CH4 , H2S và NH3, mùi hôi và đẩy nhanh tốc độ phân giải hữu cơ của rác thải sinh hoạt.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến khoai mì.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến cao su.

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của công nghiệp EM.

- Xây dựng quy trình công nghệ tối ưu để sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định có thể áp dụng công nghệ EM vào xử lý môi trường ở tỉnh Tây Ninh vì cho hiệu quả cao và dễ áp dụng. Cụ thể:

- Đối với chất thải rắn: được xử lý bằng cách phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm thể tích và độ giảm mùi cao hơn đáng kể so với phân hủy tự nhiên.

+ Rác thải được xử lý phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm về thể tích, số lượng côn trùng, ruồi nhặng, mùi cao hơn đáng kể so với không xử lý bằng EM.

+ Sau 27 ngày thí nghiệm trên mô hình cố định, thể tích các thùng (6 thùng; 2m2/thùng) giảm từ 18% - 30%. Nếu để tự nhiên sau 27 ngày thí nghiệm, thể tích các thùng giảm từ 13,3% - 16,7%.

+ Các thùng chứa hoàn toàn là rác thải hữu cơ (đã phân loại) độ cao của rác giảm nhiều hơn các thùng chứa rác hỗn hợp. Thùng phân loại rác sử dụng EM Việt Nam có độ cao của rác giảm nhanh gấp 1,5 lần so với thùng không phân loại sử dụng cùng loại EM. Thùng phân loại rác sử dụng EM Nhật có độ cao của rác giảm không đáng kể so với thùng không phân loại.

+ Xử lý 1m3 rác chỉ khoảng 2.000 đồng, điều đó cho thấy giảm đáng kể cho ngân sách địa phương trong công tác xử lý rác thải.

- Đối với nước thải: Nước thải từ chế biến khoai mì và cao su được xử lý bằng dung dịch EM đã làm giảm mạnh mùi hôi, các chỉ số COD, BOD, SS. Nồng độ EM1 Việt Nam 5%, hiệu quả xử lý tốt, so sánh chế phẩm Việt Nam và Nhật Bản:

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý SS cao hơn EM1 Nhật 2,6 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý COD cao hơn EM1 Nhật 7,9 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý BOD5 cao hơn EM1 Nhật 1,8 lần.

+ Theo tính toán ban đầu để giảm nồng độ BOD xuống 45%, nồng độ COD 35% so với nồng độ ban đầu, chi phí này khoảng 800 đ/m3 nước thải.

- Sản xuất chế phẩm EM tại Tây Ninh.

+ Chủng vi sinh: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh đã ứng dụng các giống vi sinh để sản xuất EM-1 và EM - Bokashi, đánh giá được một số chỉ tiêu thiết yếu như định danh các chủng vi khuẩn lactic thuộc giống Lactobacillus, Streptococcus.

+ Sản xuất dạng pilot: đã thiết lập được thành phần môi trường lên men sản xuất EM-1 và EM - Bokashi từ các nguyên liệu sẵn có ở tỉnh Tây Ninh như rỉ đường mía, cám gạo, khô dầu phộng bột cá, nước chiết giá và một số muối vô cơ.

+ Kết quả kiểm tra, phân tích: qua kết quả kiểm tra khách quan của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, EM-1 và EM - Bokashi đã sản xuất là những sản phẩm vi sinh có chất lượng tốt, không có các vi sinh vật gây bệnh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 01/02/2007. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào xử lý chất thải tại các nhà máy, cơ sở chế biến mì và cao su nhằm giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừĐiều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừ
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Dương Quốc Việt Cơ quan chủ trì: Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 171,435 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá tình hình nhiễm giun sán và những yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ nhiễm trên đàn bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh. Phát hiện các loài giun sán thường gây bệnh, các lứa tuổi của bò có tỷ lệ mắc bệnh cao ở từng vùng khác nhau; hiệu quả một số loại thuốc thường sử dụng điều trị giun sán ở bò.

Đề xuất một số biện pháp phòng và trị bệnh giun sán trên đàn bò nhằm tăng năng suất và đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi bò.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra tình hình nhiễm một số giun sán trên đàn bò nuôi và hạ thịt tại 9 huyện, thị tỉnh Tây Ninh.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm theo vùng địa lý, mật độ chăn nuôi, nhóm tuổi, giống, điều kiện chuồng trại, biện pháp chăm sóc quản lý, trình độ người chăn nuôi theo tháng mùa trong năm.

Thu thập mẫu (mẫu phân và phủ tạng nhiễm ký sinh trùng) để định danh phân loại những loài giun sán trên đàn bò.

Đánh giá biến đổi bệnh lý do ký sinh trùng trên những cơ quan của bò bị nhiễm giun sán.

Bố trí thí nghiệm điều trị những bò, bê bị nhiễm một số loài giun, sán với tỷ lệ nhiễm cao sau khi có kết quả xét nghiệm phân bằng một số loại thuốc trên thị trường.

Đánh giá hiệu quả thuốc bằng cách kiểm tra phân sau 7 ngày sử dụng thuốc điều trị.

Lập bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh.

Đề xuất những biện pháp khả thi để phòng trị các loài ký sinh trùng phát hiện được trên đàn bò được khảo sát nhằm phục vụ chương trình phát triển chăn nuôi bò trong nhân dân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả điều tra tình hình nhiễn giun, sán trên đàn bò qua các phương pháp thực hiện: số liệu chính xác phản ánh được tình hình thực tế tại địa phương.

Qua điều tra 1.000 bò hạ thịt tại các lò giết mổ: tỷ lệ nhiễm giun sán chung là 78,30%, trong đó 66,70% nhiễm sán lá dạ cỏ; 49,20% nhiễm giun dạ múi khế và 7,5% nhiễm giun xoang bụng. Có 31,70% bò nhiễm 2 loài; 6,70% bò nhiễm 3 loài giun sán;

+ Tỷ lệ nhiễm cao nhất khảo sát tại lò mổ huyện Trảng Bàng (chiếm tỷ lệ 82,31%), kế đến huyện Dương Minh Châu (chiếm tỷ lệ 78,18%), Gò Dầu (chiếm tỷ lệ 77,69%), Tân Châu (chiếm tỷ lệ 76,15%), tỷ lệ nhiễm thấp nhất tại huyện Tân Biên (chiếm tỷ lệ 73,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở giống bò lai sind, ta vàng và giống khác (chủ yếu là bò vàng nguồn gốc Campuchia) lần lượt là 75,81%; 77,42% và 91,06%. Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá tăng dần theo các nhóm tuổi của bò dưới 3 tuổi, từ 3 - 5 tuổi và trên 5 tuổi lần lượt là 70,22%; 77,08% và 84,39% (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở bò cái (chiếm 78,63%) cao hơn bò đực (chiếm 77,94% (P > 0,05). Bò chỉ nhiễm 1 loài giun sán chiếm tỷ lệ 39,90%, nhiễm 2 loài chiếm 31,70%, nhiễm 3 loài trở lên chiếm 6,70%.

- Điều tra 2.000 bò nuôi phát hiện bò thường nhiễm giun sán: sán lá dạ cỏ, giun dạ múi khế, giun đũa, sán lá gan, cầu trùng, sán dây, giun tóc, giun kết hạt ... tỷ lệ nhiễm chung là 71,25%, cao nhất là nhiễm sán lá dạ cỏ (50,45%) kế đến là giun dạ múi khế (39,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán cao nhất ở bò nuôi tại huyện Trảng Bàng (chiếm 80,33%), kế đến là Thị xã (chiếm 76,52%), Hoà Thành (chiếm 76,43%), Châu Thành (chiếm 73,75%), Tân Châu (chiếm 72,35%), Gò Dầu (chiếm 68,33%), Dương Minh Châu (chiếm 67,31%), Tân Biên (chiếm 67,27%) và thấp nhất là ở bò nuôi tại huyện Bến Cầu (chiếm 57,00%); tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò nuôi theo phương thức bán chăn thả (chiếm 76,40%) cao hơn bò nuôi nhốt (chiếm 61,29%) (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán giống bò sữa (chủ yếu bò giống Hostein Friesian - F1, F2, F3) thấp nhất (chiếm 63,76%), kế đến là giống bò lai Sind (chiếm 69,58%), bò ta vàng (chiếm 71,79%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là các giống bò khác, bao gồm bò nguồn gốc Campuchia, bò Thái ... (chiếm 89,06%). Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán tăng dần theo lứa tuổi bò từ bò dưới 1 tuổi, bò từ 1 - 3 tuổi, bò từ 3

- 5 tuổi và bò trên 5 tuổi lần lượt là 62,34%; 69,76%; 73,33% và 81,09%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo lứa tuổi bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò đực (chiếm 72,79%) cao hơn bò cái (chiếm 70,33%). Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

+ Tỷ lệ bò nhiễm giun sán tăng theo qui mô của hộ chăn nuôi bò. Tỷ lệ bò nhiễm giun sán ở qui mô chăn nuôi từ 1 - 5 con, từ 6 - 10 con và trên 10 con lần lượt là 68,56%; 72,63% và 77,29%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo qui mô chăn nuôi có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở mùa mưa (chiếm 72,50%) cao hơn mùa khô (chiếm 69,70%). Tuy nhiên, sự khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

Qua điều trị 400 bò nhiễm giun sán: điều trị giun tròn: thuốc Polystrongle hiệu quả hơn thuốc Bivermectin; điều trị sán lá: thuốc Valbazen hiệu quả hơn thuốc Dovenix.

Qua xét nghiệm 100 tiêu bản vi thể cơ quan nội tạng bò nhiễm giun sán cho thấy có sự tổn thương tại những cơ quan nhiễm giun sán như dạ dỏ, dạ múi khế và ở những cơ quan mà trong chu kỳ sống ấu trùng di hành qua như gan, phổi, ruột, thực quản... Từ đó, sẽ ảnh hưởng sức khoẻ, sự tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng của bò và làm giảm năng suất chăn nuôi.

Biện pháp phòng và điều trị bệnh giun, sán trên bò đảm bảo tính khoa học và ứng dụng:

+ Phòng chống bằng thuốc, vệ sinh môi trường, bằng vaccin, diệt các loài vật chủ trung gian truyền bệnh; cơ quan thú y định kỳ kiểm tra, kịp thời phát hiện những loài giun sán ký sinh trên gia súc nuôi để có khuyến cáo, hướng dẫn cán bộ thú y và người chăn nuôi sử dụng thuốc phòng trị hợp lý.

Bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 14/9/2006. Trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Ninh triển khai ứng dụng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu cho học sinh, giáo viên khoa chăn nuôi thú y và các hộ chăn nuôi trong tỉnh;

Sử dụng kết quả khảo sát, hình ảnh đề tài viết một số nội dung phần giun, sán bò trong giáo trình Bệnh ký sinh trùng thú y giảng dạy chuyên ngành chăn nuôi thú y tại trường;

Đào tạo được 430 học viên, học viên ứng dụng kiến thức đã học để chuẩn đoán, điều trị bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò tại địa phương.

Sử dụng kết quả của đề tài tiếp tục thực hiện hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành:

+ Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy phần chuyên biệt học phần bệnh ký sinh trùng tại trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật tại Tây Ninh”, năm học 2009 - 2010, xếp loại Khá.

+ Đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số loại thuốc điều trị giun sán đường tiêu hoá trên bò nuôi tại một số địa bàn thuộc tỉnh Tây Ninh”, năm học 2010 - 2011, xếp loại Khá.

Làm tài liệu nghiên cứu một số nội dung của đề tài cấp tỉnh: “Xây dựng mô hình trạm xá thú y tai trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuat Tây Ninh”, CNĐT: ThS. Lê Thị Kim Lan.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phê duyệt Danh mục tài liệu thuộc hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015Phê duyệt Danh mục tài liệu thuộc hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015

​Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định Phê duyệt Danh mục tài liệu thuộc hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015


Phê duyệt Danh mục tài liệu thuộc hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 theo quy định tại Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh

Nội dung chi tiết xem tại đây. 1428.qd.signed.pdf

27/07/2022 5:00 CHĐã ban hànhTin
Điều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa tángĐiều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa táng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hận Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 198,96 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

         MỤC TIÊU

-  Quy hoạch việc chôn cất hài cốt tập trung, không sử dụng đất thổ để xây dựng mồ mả, hướng đến tập quán hỏa táng, phù hợp với nền văn minh mới hợp vệ sinh.

-  Quy hoạch nghĩa địa nhằm mục đích đảm bảo tình hình sử dụng đất, đảm bảo vệ sinh nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo môi trường sinh thái nét đẹp mỹ quan đô thị.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

-  Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội.

-  Điều tra, khảo sát hiện trạng chôn cất, phân tích môi trường (đất nước).

-  Thống xử số liệu.

-  Xây dựng hình toán về tốc độ tăng dân số theo tỷ lệ chết.

-  Lập số hóa các loại bản đồ bằng phương pháp GIS.

-  Xây dựng bản đồ quy hoạch nghĩa trang trên phần mềm Mapinfo.

-  Tham quan đề xuất biện pháp hỏa táng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sở Khoa học Công nghệ Tây Ninh đã tiến hành điều tra với số lượng 7.772 phiếu về việc hỏa táng: chỉ 18,6% đồng ý; 5% đồng ý nếu như Nhà nước chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

-  Ý kiến của các đoàn thể tôn giáo đa số đồng ý với hình thức hỏa táng; do vậy với sự tác động của các tổ chức này, tâm về chôn cất của người dân dần dần sẽ thay đổi.

-   Phương pháp hỏa táng: phương pháp dùng nhiệt độ cao (khoảng 600- 10000C) đốt xác người cùng với quan tài các vật liệu tẩm liệm thành tro, xương người khi đó bị cháy thành các mảnh vụn. Một phần tro xương sau đó được cho vào hủ kín để thờ phụng hoặc đem rải xuống sông, hồ.

 

 

 

-  Công nghệ hỏa táng theo nhiên liệu đốt (củi, dầu, điện, gas) xử khói bằng phương pháp đốt bổ sung (đốt lại), gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu (buồng đốt cấp), nhiệt độ cháy được giữ 600 - 9000C, giai đoạn thứ hai (buồng đốt thứ cấp), nhiệt độ 900 - 1.1000C được kiểm soát để tạo ra các sản phẩm cháy hoàn toàn.

-  Thiết bị: phù hợp với đặc thù của tỉnh, đảm bảo tính công nghệ tiên tiến, an toàn bảo vệ môi trường; một số thiết bị chuyên dùng: điện ABB của Thụy Sĩ, gas Pyrox của Canada, hỏa táng Power - pak II của Mỹ.

Qua quá trình thu thập thông tin, dữ liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu hiện trạng nghĩa địa, nghĩa trang trên địa bàn tỉnh, đề tài đã đề xuất được hình hỏa táng xây dựng Trung tâm hỏa táng Tây Ninh trực thuộc Sở lao động, Thương binh hội tỉnh Tây Ninh với công nghệ đốt Power - Pak của Mỹ với nguyên liệu đốt gas. Đây một trung tâm hoạt động công ích thu, đóng góp cho hội về mặt nhân đạo, từ thiện bảo vệ môi trường.

Địa điểm của Trung tâm hỏa táng đáp ứng được nhu cầu của nhiều địa phương, rộng rãi, thoáng, yên tĩnh, trang nghiêm thuận tiện cho đi lại, bố cục kiến trúc hợp lý, tính dân tộc, phù hợp với đặc thù của tỉnh, sạch đẹp tạo ấn tượng tốt về một nơi an nghỉ cuối cùng cho người đã khuất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm của đề tài được chuyển giao cho Sở Lao động Thương Binh hội, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu ứng dụng trong xây dựng đề án về “Nghĩa trang xanh”, trong công tác quản của ngành. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sở khoa học để Sở Lao động Thương binh hội tham mưu UBND tỉnh phê duyệt dự án xây dựng công trình đài hỏa táng tại Trường Hòa, huyện a Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 7/2009, Công ty TNHH Fairy Park Việt Nam (thuộc tập đoàn Fairy Park, Malaysia) trụ sở tại 274, Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng “Sơn Trang Tiên Cảnh” tại ấp Trường Thọ, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh với số vốn đầu 20 triệu USD, tổng diện tích khu đất khoảng 75 ha giai đoạn 1 với diện tích khoảng 14 ha, dự kiến sẽ phục vụ khoảng 5.000 ngôi mộ an táng, trên 8.000 chỗ lưu trữ tro cốt hỏa táng, chưa kể phần mộ cải táng. Sơn Trang Tiên Cảnh được xây dựng theo mô hình Fairy Park tại Malaysia, có phong cảnh cây cỏ, suối nước, non bộ, các tượng thần, thánh của các tôn giáo, đội ngũ nhân viên chăm sóc mộ...

Từ tháng 8/2011, tập đoàn Fairy Park (Malaysia) đưa Sơn Trang Tiên Cảnh đi vào hoạt động. nơi chôn cất được xây dựng theo kiểu kiến trúc mới, hiện đại hợp phong thủy. Phong cách tiên tiến không nhang khói, phù hợp với chính sách bảo vệ môi trường; hộp đựng tro cốt được làm bằng nhôm, nhập khẩu từ Đài Loan, thiêu bằng diesel... Đây hạng mục công trình lớn nhất, hiện đại nhất của nước ngoài đầu vào lĩnh vực này

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây NinhXây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đoàn Ngọc Toản Cơ quan chủ trì: Liên đoàn ĐCTV- ĐCCT miền Nam (nay là Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước MN) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 600,503 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-  Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chất công trình (ĐCCT) và các chương trình hỗ trợ để thành lập các bản đồ ĐCCT. CSDL có khả năng lưu trữ và cập nhật các tài liệu khảo sát ĐCCT toàn tỉnh, nhất là địa bàn thị xã và thị trấn.

-  Xây dựng chương trình hỗ trợ thành lập cột địa tầng, mặt cắt và các bản đồ ĐCCT chuyên môn phục vụ cho các ngành kinh tế và khoa học khác nhau.

-  Thành lập loạt bản đồ ĐCCT phục vụ cho quy hoạch xây dựng và sử dụng hợp lý tài nguyên đất khu vực thị xã Tây Ninh.

-  Đào tạo cán bộ kỹ thuật ứng dụng các kết quả nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Thu thập toàn bộ số liệu các công trình nghiên cứu về ĐCCT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Phân loại, sắp xếp các số liệu cần lưu trữ để nhập vào CSDL.

-  Xác định mối quan hệ của các số liệu lưu trữ, các công thức tính toán trên tập hợp các số liệu.

-  Xác định các dạng bản vẽ, các biểu bảng, các loại đồ thị cần xuất ra từ CSDL

-  Xây dựng các bảng cần thiết để lưu trữ số liệu.

-  Xây dựng các quan hệ, các ràng buộc toàn vẹn, các miền giá trị.

-  Xây dựng các giao diện để nhập, xuất, kiểm tra số liệu.

-  Viết các hàm, modules để CSDL hoạt động.

-  Viết các chương trình hỗ trợ thành lập các bản vẽ, mặt cắt, biểu đồ, trên cơ sở các số liệu được xuất ra từ CSDL.

-  Tạo liên kết giữa CSDL với bản đồ, đưa các số liệu trong CSDL trở thành các đối tượng, các thuộc tính của đối tượng GIS.

-  Số liệu trong CSDL được liên kết với bản đồ, các bảng trong CSDL là thuộc tính của bản đồ Người khai thác số liệu có thể tìm kiếm thông tin từ CSDL hoặc từ các bản đồ liên quan.

-  Dựa trên CSDL tính toán các chỉ tiêu cơ lý của đất đá và in ra các biểu bảng, đồ thị thống nhất, giúp cán bộ làm công tác khảo sát ĐCCT dễ dàng thành lập các bản vẽ và biểu bảng cần thiết cho công tác lập báo cáo khảo sát.

-  Viết hướng dẫn sử dụng, biên tập thành file help.

-  Dựa trên CSDL và các phần mềm hỗ trợ tiến hành thành lập loạt bản đồ ĐCCT khu vực thị xã Tây Ninh, phục vụ cho công tác quy hoạch xây dựng, quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên đất.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Đề tài đã thu thập phong phú, đầy đủ các tài liệu về địa chất, địa mạo, ĐCCT đã có trong vùng, đã chỉnh lý chi tiết và có hiệu quả tài liệu điều tra cơ bản của vùng, đặc biệt trong việc phân tích chỉnh lý tài liệu ĐCCT.

-  Thành lập cơ sở dữ liệu ĐCCT trong môi trường nhiều người dùng, tương thích với hệ thống thông tin địa lý (GIS) lưu trữ các loại số liệu về kết quả nghiên cứu ĐCCT, cung cấp số liệu cho các chương trình và phần mềm xử lý số liệu. Viết các chương trình hỗ trợ cho công tác lập bản vẽ, bản đồ ĐCCT. CSDL và các chương trình hỗ trợ là một phần mềm máy tính chuyên dùng trong công tác nghiên cứu ĐCCT.

-  Cơ sở dữ liệu ĐCCT tỉnh Tây Ninh được xây dựng dựa trên các đặc điểm về địa hình (đồi núi, thành tạo do sông), cấu trúc địa chất, và tính chất cơ lý của đất đá, vật liệu xây dựng. Kết quả phân vùng ĐCCT ở Tây Ninh thành 05 vùng, mỗi vùng có điều kiện và đặc trưng riêng.

+ Địa hình đồi núi: bao gồm các sườn núi thành tạo trên các khối xâm nhập (núi Bà Đen), có độ dốc trung bình 15 - 400 đến 50 - 600; trắc địa dọc của địa hình có dạng lõm, mạng lưới dòng chảy tạm thời rất phát triển.

+ Địa hình thành tạo do sông: chiếm phần diện tích còn lại của vùng nghiên cứu như: bãi bồi ven lòng tuổi Holocen muộn, thời muộn (Q2), thềm tích tụ - xâm thực bậc II tuổi Pleistocen muộn, thời muộn (Q1 3), thềm xâm thực tích tụ bậc III tuổi Pleistocen muộn, thời sớm (Q1  1).

+ Cấu trúc địa chất: các trầm tích đệ tứ bao gồm các thành tạo nguồn gốc sông và nguồn gốc sông - đầm lầy phân bố gần như rộng khắp trong vùng nghiên cứu; các thành tạo magma xâm nhập phân bố ở phía Đông với diện tích khoảng 6 km.

+ Đặc điểm địa chất thủy văn: nhìn chung mực nước ngầm trong vùng nghiên cứu nằm nông, nước dưới đất trong vùng có 3 loại ăn mòn đối với bê tông: chủ yếu là ăn mòn rủa lũa, ăn mòn carbonic, ăn mòn axit. Trong vùng không hiện diện ăn mòn sulfat, tại vị trí lỗ khoan DT1 nước không có khả năng ăn mòn.

+ Tính chất cơ lý của đất đá: trong phạm vi ảnh hưởng của móng các công trình xây dựng và nền đất (0 - 30m) các thành tạo đất đá được phân chia thành 4 loạt thạch học là loạt thạch học deluvi, loạt thạch học sông - đầm lầy, loạt thạch học sông và loạt thạch học magma xâm nhập và được chia thành 9 phức hệ thạch học. Các phức hệ thạch học được chia ra 21 kiểu thạch học. Nhìn chung phần lớn diện tích nghiên cứu có cấu trúc đất nền và tính chất cơ lý của đất đá thuận lợi cho việc đặt móng xây dựng công trình.

+ Vật liệu xây dựng: trong phạm vùng nghiên cứu, nguồn vật liệu xây dựng khá hạn chế, chủ yếu là đá xây dựng, cuội sỏi và đất san lấp.

- Kết quả phân vùng địa chất công trình:

+ Vùng thị xã Tây Ninh thuộc miền VII địa chất công trình toàn quốc và được chia thành 4 vùng là vùng đồi núi, vùng đồng bằng xâm thực tích tụ, đồng bằng tích tụ - xâm thực và đồng bằng tích tụ.

+ Vùng đồi núi phân bố ở phía Đông thị xã Tây Ninh và được phân thành 2 khu địa chất công trình VIIA1 và VIIA2. Các khu này không thuận lợi cho xây dựng.

+ Vùng đồng bằng xâm thực tích tụ phân bố chủ yếu ở phía Bắc và một phần ở phía Đông Nam của thị xã Tây Ninh và được chia thành 3 khu địa chất công trình VIIB1, VIIB2, và VIIB3. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ xâm thực phân bố chủ yếu ở phía Tây, phía Nam và trung tâm của thị xã Tây Ninh và được chia ra thành 2 khu địa chất công trình VIIC1, VIIC2. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ phân bố củ yếu ở phía Tây, Tây Nam dọc theo rạch Tây Ninh và các rạch nhỏ trong vùng. Được chia thành 6 khu địa chất công trình VIID1, VIID2, VIID3, VIID4, VIID5 và VIID6. Các khu VIID4, VIID5 và VIID6 không thuận lợi cho xây dựng. Khi có nhu cầu xây dựng tại đây cần sử dụng giải pháp gia cố nền hoặc móng thích hợp.

-  Số lượng tài liệu địa chất công trình thu thập được chủ yếu tập trung ở trung tâm của thị xã. Vì vậy số lượng lỗ khoan trên bản đồ phân bố không đều, có những vùng còn chưa có các công trình nên việc nghiên cứu, phân chia ra các cấp nhều dày của các phức hệ thạch học còn mang tính định tính và chủ yếu dựa vào độ cao địa hình.

-  Bản đồ ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng thị xã Tây Ninh (TXTN) và các mặt cắt đi kèm, bản đồ phân vùng ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN; bản đồ cột địa tầng lỗ khoan tỷ lệ 1/10.000 và bản đồ tài liệu thực tế ĐCCT tỷ lệ 1/10.000, bản đồ sức chịu tải quy ước tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 463/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi), Sở Giao thông Vận tải, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Xây dựng ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng cơ giới hóa canh tác mía ở Tây NinhNghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng cơ giới hóa canh tác mía ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: KS. Lê Ngọc Tĩnh Cơ quan chủ trì: Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 714.755.975 đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xây dựng mô hình cơ giới hóa canh tác mía trên 2 vùng đất đại diện tại tỉnh Tây Ninh:

+ Vùng đất cao: Vùng nguyên liệu mía thuộc huyện Tân Châu Tây Ninh, năng suất tăng từ 8 ÷ 15% so với đối chứng.

+ Vùng đất thấp: Vùng nguyên liệu mía thuộc huyện Châu Thành Tây Ninh, Năng suất tăng từ 10 ÷ 15% so với đối chứng.

+ Chi phí sản xuất giảm từ 10 ÷ 20% so với đối chứng.

- Nhân rộng kết quả Mô hình trong tỉnh Tây Ninh, hiệu quả sản xuất được thể hiện:

+ Năng suất tăng từ 5 ÷ 8% so với sản xuất đại trà.

+ Chi phí sản xuất giảm từ 8 ÷ 15% so với sản xuất đại trà.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Xây dựng quy trình cơ giới hóa đồng bộ canh tác mía thích hợp tại 2 vùng đất ở Tây Ninh.

-     Ứng dụng các loại máy chuyên dùng, các kết quả nghiên cứu hiện nay vào canh tác mía trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-     So sánh đánh giá kết quả nghiên cứu và khảo nghiệm dự kiến.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Về đặc điểm sinh trưởng của cây mía:

+ Cây mía ở Việt Nam có thời gian sinh trưởng ngắn, là cây có sinh khối lớn, khối lượng thân rễ lá có thể tới 300 tấn/ha, thân và lá khá nặng; cây mía dể bị đổ ngã khi gió lớn, tỷ lệ hao hụt mía cây khi thu hoạch phụ thuộc đáng kể vào trạng thái cây đứng trên đồng;

+ Khoảng cách hàng, mật độ cây và năng suất mía có mối quan hệ mật thiết với nhau, tùy thuộc vào trình độ thâm canh, CGH mà quan hệ đó thay đổi; khoảng cách hàng rộng, hàm lượng chất dinh dưỡng và ẩm độ trong đất càng cao thì tỷ lệ mía đẻ nhánh, số cây trên hàng càng cao và sẻ tăng cho đến khi giao tán, các cây thấp yếu sẻ bị đào thải.

- Hiện trạng canh tác mía tại Tây Ninh:

+ Vụ Đông - Xuân (cuối mùa mưa): thường trồng vào khoảng tháng 11 đến tháng 12 dương lịch, thu hoạch vào khoảng tháng 10 đến tháng 12 năm sau; đối với vùng có điều kiện tưới thời vụ trồng có thể kéo dài đến tháng 1 - 2 dương lịch; vụ này có thời gian sinh trưởng dài nên năng suất thường cao hơn;

+ Vụ Hè - Thu (cuối mùa mưa): thường trồng vào khoảng tháng 4, 5, 6 dương lịch, thu hoạch vào khoảng tháng 2, 3, 4, 5 dương lịch năm sau; vụ này có thời gian sinh trưởng ngắn nên năng suất thấp hơn;

+ Khâu làm đất: cày đạt độ sâu từ 18 - 25 cm. Máy kéo công suất từ 50 - 100 Hp liên kết với các thiết bị là cày phá lâm 03 chảo, 04 chảo và cày 07 chảo xen kẽ;

+ Khâu trồng: máy chỉ làm một chức năng là rạch hàng (độ sâu lớn nhất chỉ 25 cm) nên có cấu tạo đơn giản; bón lót, rải hom, lấp, nén hom đều thực hiện bằng lao động thủ công;

+ Chăm sóc: cày ra diệt cỏ, phơi cho cỏ chết, đợi khi có mưa thì rải phân bằng lao động thủ công và cày vô lấp phân; công tác chăm sóc mía còn gặp nhiều khó khăn theo thời tiết;

+ Khâu thu hoạch: toàn bộ mía ở Tây Ninh được thu hoạch bằng thủ công, lượng lá mía khô trên đồng sẽ được đốt cháy hoàn toàn; công việc này gây ảnh hưởng đến môi trường rất nhiều.

-     Xây dựng quy trình cơ giới hóa (CGH) canh tác mía ở Tây Ninh: vùng đất cao (huyện Tân Châu Tây Ninh): Năng suất tăng 41,36%; chi phí giảm 22,7% so với đối chứng; vùng đất thấp (huyện Châu Thành Tây Ninh): Năng suất tăng 24,8% ; chi phí giảm 29,6% so với đối chứng.

-     Xây dựng được 2 mô hình canh tác mía:

+ Tại Tân Châu Tây Ninh (vụ Đông Xuân 2007): trong vụ mía tơ, năng suất đạt cao hơn lô đối chứng là 41,24% và cao hơn các lô đại trà cùng giống K84-200 cùng khu vực là 48,02%; đất không có gốc và lá mía giảm 12% so với đối chứng và đại trà.

+ Tại Châu Thành Tây Ninh (vụ Hè Thu 2006): trong vụ mía tơ, năng suất đạt cao hơn lô đối chứng là 33%; chi phí canh tác giảm 11,03% so với đối chứng. Trong vụ mía gốc (2008 - 2009) năng suất đạt cao hơn lô đối chứng là 2,66% và cao hơn các lô đại trà cùng giống K84-200 cùng khu vực là 33,3%; chi phí canh tác giảm 22,93% so với đối chứng và đại trà.

-     Mô hình canh tác mía bằng cơ giới kèm theo các số liệu khảo nghiệm. Các thiết bị chuyển giao: 01 máy trồng mía, 01 máy chăm sóc liên hợp, 01 máy thu hoạch.

-     Danh mục các thiết bị cơ giới hóa canh tác mía và quy trình canh tác mía phù hợp với điều kiện đặc thù của tỉnh Tây Ninh. Các máy đạt kết quả tốt đang nhân rộng gồm máy trồng mía bán cơ giới, máy xới bón phân, máy tung vôi, cày ngầm không lật; một số máy có triển vọng như máy bón phân kết hợp xới diệt cỏ, máy băm lá mía, máy nâng chuyển mía bán thủ công.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến các cơ quan, đơn vị, các vùng, khu vực có liên quan trên địa bàn tỉnh; tổ chức triển khai nhằm tạo đột phá trong việc tăng năng suất, chất lượng và giảm chi phí đối với cây mía ở Tây Ninh.

- Sở KH&CN đã giao cho Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN thuộc Sở triển khai nhân rộng kết quả nghiên cứu: từ năm 2008 - 2010, máy cày ngầm đã được cải tiến và nhân rộng 02 cái tại Trại mía Thành Long, Châu Thành, Tây Ninh (Cày ngầm đã ứng dụng canh tác là 22 ha; Bừa đĩa trung 100 ha; Cày sâu 4 chảo 50 ha); máy trồng mía Thái Lan 50 ha, được cải tiến và nhân rộng trên 30 cái tại Tây Ninh và các tỉnh như Long An, Đồng Nai và Gia Lai; máy băm lá của Chương trình mía đường Tp. HCM thực hiện được 10 ha. Từ 2011 - 2012: bừa đĩa trung 11 ha; máy xới bón phân 01 hàng của Thái Lan 52,5 ha; máy tung vôi mẫu Tây Ban nha 101 ha; khâu thu hoạch chưa ứng dụng được vào sản xuất và đời sống.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lýKhảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lý
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Ngọc Hòa Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện là: 155,1 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Nghiên cứu các lễ hội ở Tây Ninh để tìm ra được các giá trị văn hóa, trên cơ sở đó có kế hoạch bảo tồn, phát triển phù hợp văn hóa dân tộc và tập tục địa phương; góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho thế hệ trẻ.

-     Đề xuất các giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Cơ sở lý luận về lễ hội (khái niệm, phân loại, giá trị....)

-     Lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Tây Ninh

-     Các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh

-     Giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (giá trị tâm linh, giá trị nghệ thuật, trò chơi dân gian, giá trị thẩm mỹ ứng xử - nối kết cộng đồng, giá trị giáo dục truyền thống; các mặt còn hạn chế của lễ hội Tây Ninh).

-     Các định hướng, giải pháp bảo tồn, phát huy và quản lý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Hệ thống lễ hội Tây Ninh có thể chia thành 3 dạng: lễ hội dân gian (lễ hội dân gian Việt, lễ hội dân tộc ít người), lễ hội tôn giáo (lễ hội đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo), và lễ hội lịch sử cách mạng.

+ Lễ hội dân gian Việt: Tây Ninh có 78 đình, dinh, đèn, miếu và điện đang hoạt động với chu kỳ hàng năm tập trung vào lễ hội chính là Kỳ Yên (thường vào tháng Giêng, 2, 3, 4, 6, 8, 11 và tháng Chạp âm lịch); ngoài lễ chính, còn tổ chức các lễ phụ (Cầu bông, Khai hạ, Tống ôn, Niêm ấn);

+ Lễ hội dân tộc ít người: dân tộc Khmer có 3 lễ hội (Chol Thmây, Đôn ta, Ok-Oom-Bok); dân tộc Chăm (Ramadan, Haji, Maulua); dân tộc Tà Mun (Samco, Donta); người Hoa (lễ vía Quan Thánh Đế Quân, Vía Thiên Hậu Thánh Mẫu);

+ Lễ hội đạo Cao Đài: lễ Vía Đức Chí Tôn, lễ Thượng ngươn, Hội Yến Diêu Trì; Phật giáo (lễ hội Phật Đản và Vu Lan); Thiên chúa giáo (lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh);

+ Lễ hội lịch sử cách mạng: với trên 300 di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng, trong đó có những di tích mang tầm quốc gia (Trung ương Cục, Ban An ninh Miền, Căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam, Căn cứ mặt trận giải phóng Miền Nam, Căn cứ Tua Hai Đồng Khởi); lễ hội xuân Núi Bà Đen được tổ chức vào dịp lễ tết cổ truyền dân tộc hàng năm.

-     Đề tài đã khảo cứu khoảng 18 lễ hội ở Tây Ninh, những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay.

+ Ở Tây Ninh có khoảng 18 lễ hội: lễ hội Đình (lễ Kỳ Yên), hội Quan lớn Trà Vong, Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, tôn giáo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo, dân tộc Khmer, dân tộc Chăm, dân tộc Tà Mun, dân tộc Hoa, làng nghề truyền thống, tín ngưỡng dân gian (lễ Miếu Bà), hội xuân Núi Bà, giao thừa, truyền thống cách mạng Động Kim Quang, chiến thắng Tua Hai, mừng 30/4 đại thắng, Rừng Rong.

+ Những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay: giá trị cố kết cộng đồng; giá trị hướng về nguồn (nguồn cội tự nhiên và xã hội); giá trị cân bằng đời sống tâm linh; giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa; giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

-     Thực trạng quản lý lễ hội Tây Ninh trong những năm qua: một số đình, đền, dinh... hiện nay ở Tây Ninh, khi tế lễ lại tạm mượn nhạc lễ của tôn giáo Cao Đài, một số nơi chuyển hẳn từ vật tế lễ mặn thành vật tế lễ chay, thập bát ban võ nghệ để thờ tự thành câu đối của Cao Đài (màu sắc của lễ hội truyền thống dân gian đã nhuốm màu sắc tôn giáo).

-     Đã là lễ hội bao giờ cũng có hai phần “lễ và hội” cộng hưởng với nhau tạo thành diện mạo trang nghiêm và hấp dẫn của một lễ hội. Qua khảo sát của Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, ở nhiều nơi phần lễ còn quá đơn giản, chưa tạo được ấn tượng tôn vinh các vị tiền bối có công với nước.

-     Đề xuất giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

+ Cần sưu tầm lại để phục hồi đúng bài bản gốc phần “lễ và hội”, có sự định hướng tăng cường phần thu hút quần chúng; lễ hội đáp ứng được mục đích giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc; việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội dân gian gắn với du lịch văn hóa - du lịch lễ hội;

+ Tổ chức đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội trên cả 3 mặt: hành chánh pháp chế (quản lý về luật pháp, tổ chức quy hoạch, chế độ chính sách liên quan đến lễ hội); nghiệp vụ chuyên môn (các hoạt động tác nghiệp giữ gìn và phát huy các lễ hội); kinh tế (quản lý chặt chẽ và có kế hoạch chủ động điều tiết các nguồn thu chi);

+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hệ thống hóa và phổ biến những thông tin về di sản văn hóa phi vật thể - lễ hội; rà soát và hệ thống các văn bản pháp luật về lễ hội đang hiện hành để phổ biến cho cơ sở; tổ chức tập huấn cho cán bộ văn hóa các cấp; in sách giới thiệu các lễ hội ở Tây Ninh, những quy định về quản lý lễ hội... phổ biến cho người dân, cho khách du lịch, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 15/02/2012. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh để triển khai ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Công đoàn cơ sở, tổ chức hoạt động và phát triển Đoàn viên ở các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiThành lập Công đoàn cơ sở, tổ chức hoạt động và phát triển Đoàn viên ở các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Chủ nhiệm đề tài: CN. Nguyễn Văn Nhiếm Đồng chủ nhiệm: CN. Vương Văn Lai Cơ quan chủ trì: Liên đoàn Lao động tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: năm 2010 Kinh phí thực hiện: 308,88 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Đánh giá đúng thực trạng tình hình công nhân, viên chức lao động (CNVCLĐ), tổ chức và hoạt động cũng như công tác phát triển đoàn viên công đoàn (ĐVCĐ) trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Phân tích những mặt mạnh, những mặt yếu kém, tồn tại và nguyên nhân, từ đó nêu lên tính tất yếu phải phát triển ĐVCĐ và thành lập công đoàn cơ sở (CĐCS) ở các doanh nghiệp FDI chưa thành lập được tổ chức công đoàn trên địa bàn tỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh giao phó.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Khảo sát số lượng, quê quán, trình độ văn hóa, tay nghề, thu nhập, điều kiện sống, sự hiểu biết về tổ chức công đoàn của đội ngũ công nhân, lao động tại các doanh nghiệp FDI thuộc các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Khảo sát hoạt động của Ban chấp hành công đoàn một số doanh nghiệp: sự hiểu biết về tổ chức công đoàn, chế độ chính sách cơ bản; nguyên tắc của tổ chức công đoàn; phương pháp hoạt động của Ban chấp hành công đoàn; phương pháp phối hợp hoạt động giữa Ban chấp hành công đoàn và người sử dụng lao động, phương pháp tổ chức hoạt động cho ĐVCĐ.

-  Nghiên cứu và đề xuất với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh một số chủ trương chính sách đối với tổ chức hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp FDI cũng như phát triển đoàn viên trong loại hình doanh nghiệp này.

-  Nghiên cứu xây dựng mô hình điểm hoạt động công đoàn trong doanh nghiệp FDI.

-  Đề xuất các nhóm giải pháp mang tính hệ thống, khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp FDI; trong đó để phát triển đoàn viên và thành lập được CĐCS trong các doanh nghiệp FDI cần phải đi sâu xây dựng các nhóm giải pháp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tổng số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thời điểm được khảo sát: 71; bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp trong đó tổng số phiếu phát ra dành cho người sử dụng lao động: 71; tổng số phiếu thu về: 67. Tổng số phiếu phát ra dành cho cán bộ công đoàn: 71; tổng số phiếu thu về: 69; Tổng số phiếu phát ra dành cho người lao động: 2.950; tổng số phiếu thu về 2.701. Kết quả phân tích:

+ Đối với phiếu dành cho người sử dụng lao động:

Phiếu thăm dò tập trung vào 2 nội dung lớn là muốn nắm bắt suy nghĩ của người sử dụng lao động về tổ chức công đoàn cơ sở và người lao động ở các doanh nghiệp hiện nay. Hai nội dung này được thể hiện dưới dạng câu hỏi với trên 50 chỉ tiêu được nêu ra, cụ thể như sau:

+ Nhận thức về tổ chức công đoàn: 59 phiếu đồng ý và 8 phiếu không nêu ý kiến thành lập tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp của mình. Hoạt động công đoàn của doanh nghiệp trong thời gian qua ( rất tốt: 07, tốt: 48; chưa tốt: 12). Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với công đoàn cơ sở (rất tốt: 13, tốt: 49, chưa tốt: 05). Doanh nghiệp nên có cán bộ chuyên làm công tác công đoàn (rất cần: 14, cần: 25, không nêu ý kiến: 28).

+ Nhận thức về công nhân (CN): doanh nghiệp có mối quan hệ thân thiện với CN (rất tốt: 15, tốt: 44, chưa tốt: 02); chăm lo nhà ở của CN (thuê nhà trọ cho CN: 12; trả thêm tiền cho CN: 19, chưa: 33); việc áp dụng và thực hiện các quy định của pháp luật lao động đối với công nhân lao động (CNLĐ) (tất cả đều thực hiện tốt: 44, có thực hiện nhưng chưa đầy đủ: 21).

-  Những khó khăn cán bộ công đoàn thường gặp phải trong hoạt động công đoàn: chủ doanh nghiệp thường xem nhẹ vai trò của công đoàn, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn hoạt động, không đối thoại với CĐCS, cán bộ CĐCS là bán chuyên trách nên còn phụ thuộc, chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều hành từ chủ doanh nghiệp; CN chủ yếu quan tâm đến thu nhập, không có thời gian tham khảo văn bản về công đoàn; nghiệp vụ công đoàn yếu, chưa hiệu quả, chưa được hiểu biết nhiều về luật, chưa nắm rõ hết tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, không có thời gian hoạt động công đoàn và chưa được đoàn viên tin tưởng.

-  Năm 2009, có 70/92 CĐCS đã thành lập được xếp loại: 35 CĐCS đạt vững mạnh và vững mạnh xuất sắc, 17 CĐCS đạt khá, 16 CĐCS đạt trung bình, 02 đạt yếu kém; 22 CĐCS còn lại không xếp loại được.

-  Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp FDI chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Cán bộ CĐCS không được thường xuyên tập huấn nghiệp vụ nên hoạt động công đoàn chưa tốt, chưa phải là đối tác ngang tầm của chủ doanh nghiệp.

-  Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất của giai cấp công nhân (GCCN), là tổ chức duy nhất đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của GCCN, vì vậy cần phải quy định thành lập tổ chức trong các doanh nghiệp.

-  Trong tình hình hiện nay doanh nghiệp FDI ngày càng nhiều, số lượng công nhân lao động tăng lên một cách nhanh chóng thì việc xây dựng mô hình điểm hoạt động trong các doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách và quan trọng. Hình thức và nội dung hoạt động công đoàn ở mô hình này: Đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNLĐ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập trong CNLĐ; tổ chức phong trào thi đua CNLĐ; chăm lo đến CNLĐ; đổi mới tổ chức, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động và đội ngũ cán bộ công tác trong các doanh nghiệp; nêu lên vị trí, nhiệm vụ của chủ tịch, tổ trưởng công đoàn.

-  Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động công đoàn ở các doanh nghiệp FDI, chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ, với những nội dung phù hợp, đáp ứng được nguyện vọng của CNLĐ.

-  Giải pháp cụ thể: có kế hoạch khảo sát để xác định doanh nghiệp có bao nhiêu công nhân lao động thì có thể bố trí được cán bộ công đoàn chuyên trách, mở lớp đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ này; các chế độ phù hợp, thỏa đáng cho cán bộ công đoàn chuyên trách và bán chuyên trách trong các doanh nghiệp FDI; địa vị pháp lý của tổ chức này trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2274/QĐ-UBND ngày 04/11/2011. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Tây Ninh triển khai ứng dụng trong chỉ đạo các cấp công đoàn phối hợp cùng chính quyền tổ chức triển khai thực hiện, có 76% doanh nghiệp FDI đã ký thỏa ước lao động tập thể; thành lập Văn phòng tư vấn pháp luật của LĐLĐ tỉnh và tổ tư vấn huyện, thị xã, công đoàn các khu công nghiệp để tư vấn một số thắc mắc về chế độ chính sách, tiền lương, trợ cấp thôi việc, BHXH, thời gian làm việc, nghỉ ngơi; Thành lập mới 07 công đoàn cơ sở (CĐCS) doanh nghiệp FDI thuộc LĐLĐ các huyện và công đoàn các khu công nghiệp.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa MátĐiều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Ngọc Long và KS. Lý Văn Trợ Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 458,26 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao và các loài thực vật bậc thấp có ý nghĩa khoa học và kinh tế hiện diện trong khu Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát (VQG) cùng với tình trạng phân bố của chúng.

-     Xác định được các quần thể động vật quan trọng tại VQG, mức độ phổ biến và tình trạng nguy cấp, nơi phân bố của chúng.

-     Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên động, thực vật.

-     Lập bản đồ thảm thực vật.

-     Thu thập và bảo quản một số mẫu vật tiêu biểu cho các loài động vật: thú nhỏ, bò sát, cá, chim, côn trùng; thực vật bậc thấp, bậc cao và cây thuốc quan trọng tại VQG tạo cơ sở cần thiết cho các bước nghiên cứu quy hoạch và phát triển Vườn quốc gia sau này.

-     Đề xuất các biện pháp bảo tồn động, thực vật phù hợp.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật bậc cao, thấp.

-     Nghiên cứu về tài nguyên động vật trên cạn và thủy sinh vật.

-     Nghiên cứu, mô tả các vùng sinh thái cảnh quan tiêu biểu, đánh giá tài nguyên về tiềm năng du lịch sinh thái.

-     Xác định vùng phân bố, tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp.

-     Phân vùng chức năng.

-     Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội và môi trường vùng VQG.

-     Ứng dụng công nghệ xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng ngân hàng dữ liệu và hoàn chỉnh các loại sơ đồ bản đồ tỷ lệ 1/25.000.

-     Xác định tác động, mối liên quan giữa khu bảo tồn nghiêm ngặt (vùng lõi) với khu hệ đệm, đề xuất mô hình thích hợp phát triển khu đệm theo hướng đáp ứng mục tiêu bảo tồn khu bảo vệ nghiêm ngặt và các khu bảo vệ chuyên biệt.

-     Phát thảo hoàn chỉnh một số đề án bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư trong nước và quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Đề tài đã tạo ra được bộ tiêu bản động vật, côn trùng và thực vật; Bản đồ hệ thống dữ liệu thông tin địa lý (GIS).

-     Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát có đặc tính ngập nước cục bộ là một khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng thềm bậc cao Đông Nam bộ và đồng bằng thấp trũng lưu vực sông Mê Kông; đất phù sa cổ chiếm phần lớn diện tích của Vườn có thành phần cơ giới đất cát pha đến đất thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém.

-     Nguyên nhân không giữ được nước của đất rừng trong mùa khô mà sự bốc hơi nước quá chênh lệch giữa hai mùa, chỉ có những loài nào có cấu tạo thích nghi được trở nên tồn tại và phát triển (giải thích tại sao rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát cùng tồn tại kiểu rừng nhiệt đới gió mùa và kiểu rừng thưa rụng lá).

-     Hệ thực vật rừng VQG đã tổng kết được khoảng 700 loài với đại diện của 5 ngành thực vật, 60 bộ, 116 họ và 396 chi. Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) là nơi tập trung của nhiều loài thực vật nhất (chiếm 97.1%/tổng số loài thực vật).

-     Dựa vào điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý và khí hậu, thành phần cơ giới của đất, độ ẩm và tốc độ bay hơi nước, rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát đã tồn tại các kiểu thảm rừng khác nhau đan xen nhau theo thể khảm.

-     Có 6 kiểu rừng tiêu biểu cho VQG: kiểu rừng đất ngập nước theo mùa, kiểu rừng thưa thứ sinh, khô, nhiệt đới gió mùa, thưa rụng lá, rừng nguyên sinh. Ở các kiểu rừng này là nơi sinh sống của nhiều loài khác nhau, liên quan đến sự đa dạng sinh vật.

-     Tài nguyên cây thuốc của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát khá phong phú và đa dạng không chỉ về thành phần loài (179 loài) mà cả về công dụng. Một số loài cây thuốc sau đây rất được ưa chuộng và khai thác nhiều: đậu xương, sưng đừng, dây linh, dây nắp ấm, sám lộc, huyết rồng máu, hoàng đằng, lạc tiên, bồ húc, mướp khai.

-     Đã ghi nhận được 149 loài Chim thuộc 15 bộ và 40 họ (có 3 loài quí hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam: Gà lôi hông tía Laphura diardi, Gà đẫy Java Leptotilos javanicus, Hạc cổ trắng Ciconia episcopus).

-     Nhóm ếch nhái gồm 23 loài thuộc 2 bộ, 6 họ và 15 giống (bằng 13,2% loài ếch nhái so với cả nước).

-     Bò sát gồm 56 loài (15 họ và 40 giống) thuộc 2 bộ, trong đó có 18 loài bò sát quí hiếm.

-     Khu hệ cá VQG mang tính đặc trưng của vùng trung lưu và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ, 10 bộ (77/88 loài cá có giá trị kinh tế , 5/88 loài cá có tên trong sách đỏ Việt Nam).

-     Ghi nhận được 29 loài thú của 7 bộ: bộ ăn sâu bọ, bộ dơi, bộ linh trưởng, bộ móng guốc chẵn, bộ ăn thịt, bộ gặm nhấm, bộ thỏ.

-     Hệ Côn trùng ghi nhận được 128 taxa côn trùng thuộc 9 bộ.

-     Những loài thú của Vườn Quốc Gia Lò Gò- Xa Mát đang bị đe dọa nghiêm trọng vì tác động của con người và môi trường phát triển ngày càng xấu; một số loài rất có giá trị nhưng lại bị xếp vào dạng nguy cấp: Vooc Chà vá chân đen, Vooc Bạc, Khỉ đuôi lợn, Culi nhỏ, Sóc bay đen trắng, Dơi chó tai ngắn; chăn thả gia súc trâu bò của người đồng bào Khmer vùng biên giới, nguy cơ cháy rừng thường ngày vào mùa khô, đánh bắt cá, bẫy gà rừng và thú nhỏ.

-     Giải pháp bảo tồn và phát triển của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát: can thiệp bằng lực bảo vệ rừng; xây dựng chương trình giáo dục môi trường phối hợp với trường học trên địa bàn VQG; tiếp tục khảo sát, triển khai việc nghiên cứu thêm các đối tượng mới làm đa dạng tài nguyên sinh học ở VQG.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2926/QĐ-UBND ngày 17/12/2007. Kết quả đề tài được ứng dụng trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái VQG và Dự án đầu tư VQG giai đoạn 2011 - 2020; Một số đề án bảo tồn Đa dạng sinh học đối với: rừng thuần loại cây Sao dầu; các nhóm tài nguyên cây thuốc, các nhóm thú, chim và bò sát quý hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa.

-     Cung cấp tư liệu cho cơ quan báo chí, các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường đại học.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Điều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây NinhĐiều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài:Ths. Đặng Hòa Vĩnh Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 503,802 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Xác định cơ sở dữ liệu về điều kiện tài nguyên thiên nhiên các vùng đất ngập nước (ĐNN) tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá hiện trạng sử dụng ĐNN, xác định chức năng các vùng ĐNN.

-     Cung cấp luận cứ khoa học cho việc quy hoạch, quản lý khai thác và bảo vệ các vùng ĐNN.

-     Đề xuất phương hướng, biện pháp trong công tác khai thác, quản lý, bảo vệ, và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN (có xét đến các điều kiện thay đổi trong tương lai).

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Nghiên cứu các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và quá trình khai thác đất đai có liên quan đến ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Xây dựng bản đồ ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá, dự báo các tác động của con người đến ĐNN trong tương lai.

-     Nghiên cứu, đề xuất phương hướng bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Kết quả kiểm kê ĐNN tỉnh Tây Ninh: 181.539,41 ha chiếm 45,05% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó: đất ngập nước thuộc sông 152.405,28 ha (chiếm 83,95%); đất ngập nước thuộc hồ 28.368,20 ha (chiếm 15,63%); đất ngập nước thuộc đầm 7.765,93 ha (chiếm 4,28%).

-     Chức năng của ĐNN phụ thuộc vào tính chất và vị trí phân bố của từng đơn vị ĐNN khác nhau.

+ Các vùng cao thuộc thượng nguồn hồ Dầu tiếng, bờ phải rạch bến, bờ phải rạch Bến Đá: là vùng khan hiếm nguồn nước, nhưng lại có vai trò rất lớn trong việc cung cấp nước ngọt cho dân sinh và nhiều loài thủy sinh vật;

+ Các vùng tưới của hồ Dầu tiếng: nguồn nước dồi dào, tưới tiêu chủ động; tạo ra môi trường hoạt động cho các ngành kinh tế như thủy sản, nông - lâm nghiệp, giao thông thủy, sản xuất năng lượng, du lịch, khai khoáng;

+ Các vùng ven sông Vàm Cỏ Đông: là nơi tiếp nhận các dưỡng chất, tích lũy các độc chất do các hoạt động khai thác phái trên đổ xuống; là nơi thanh lọc chất gây ô nhiễm, điều hòa lũ lụt. Đây cũng chính là nơi sinh sống quan trọng cho nhiều loài động vật hoang dã, sinh sản của nhiều loài thủy đặc sản địa phương.

-     ĐNN Tây Ninh hiện đang đứng trước nhiều nguy cơ xâm hại.

+ Tình trạng khô kiệt và mất ĐNN: các vùng ĐNN tại Tây Ninh đang ngày càng trở nên khô hơn do tình trạng phá rừng và áp lực gia tăng diện tích canh tác; khai thác tài nguyên quá mức: nguồn lợi thủy sản đã giảm súc đáng kể; ô nhiễm nguồn nước: hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ô nhiễm hữu cơ; sự xâm lấn các loài cỏ dại: nhiều loài cỏ dại không có nguồn gốc bản địa, trong đó có những loài cây gây ảnh hưởng xấu (Mai dương, Lục bình, thủy thảo).

-     Để khai thác hiệu quả và bền vững tài nguyên đất ngập nước, cần phải hạn chế việc lạm thác tài nguyên thủy sản; loại trừ các hình thức khai thác mang tính chất hủy diệt; bảo vệ an toàn môi trường hồ chứa; duy trì đa dạng sinh học; phát huy và mở rộng mô hình du lịch sinh thái.

+ Hệ thống canh tác vùng bán ngập cần đảm bảo an toàn về xói mòn và sạt lở bờ hồ; quản lý chặt chẽ việc sử dụng phân bón trên vùng bán ngập và đặc biệt cấm tuyệt đối việc sử dụng thuốc trừ sâu trên vùng đất này;

+ Xây dựng đê bao chống lũ triệt để vùng ven sông Vàm Cỏ Đông, có thể gây ảnh hưởng đến các chức năng chính của hệ thống ĐNN ven sông này; trước mắt cần san lấp các kênh tiêu trong các vùng đất lâm nghiệp; tại những vị trí buộc phải có cống tiêu, cần có cửa kiểm soát, cuối mùa mưa cống cần được đóng lại duy trì chế độ ngập tự nhiên trong trảng, kéo dài thời gian ngập trong mùa khô;

+ Hiện tại ô nhiễm nguồn nước trên hệ thống kênh rạch đã đến mức báo động, để cải thiện ô nhiễm môi trường hệ thống kênh rạch, ngoài biện pháp quản lý các nguồn nước thải xả xuống hệ thống, còn có thể lợi dụng nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng.

-     Thành lập các bản đồ, sơ đồ về điều kiện tài nguyên thiên nhiên trên các vùng đất ngập nước; bản đồ kiểm kê đất ngập nước tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000; các bản đồ các vùng đất ngập nước tiêu biểu tỷ lệ 1/25.000; các bảng biểu thống kê, phân loại và đánh giá về đất ngập nước tỉnh Tây Ninh; các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp; bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất ngập nước.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 462/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến các cơ quan và đơn vị có liên quan để phục vụ trong công tác quản lý của ngành: Công ty Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng ứng dụng trong khai thác vận hành hồ chứa; Sở Tài nguyên & Môi Trường ứng dụng trong quản lý tài nguyên đất ngập nước.

-     Sở NN&PTNT (Sở tiếp nhận 01/2011): kết quả áp dụng đã triển khai áp dụng 02 dự án:

+ Dự án đê bao chống lũ ven sông Vàm Cỏ nhằm bảo vệ và phát triển diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích tưới 1.800 ha, diện tích tiêu 2.500 ha;

+ Dự án xây dựng đập tràn rạch Tây Ninh nhằm cải thiện tình trạng ô nhiểm rạch Tây Ninh tạo mỹ quan đô thị.

Một số giải pháp áp dụng trong các năm tiếp theo:

+ Xây dựng một số đập tràn, hồ chứa nhỏ vùng Bắc Tây Ninh nhằm giải lưu lượng lũ vào mùa mưa, giữ nước phục vụ sản xuất, tăng mực nước ngầm, cải thiện môi trường sinh thái;

+ Đầu tư một số công trình đê bao vùng ven sông Vàm Cỏ Đông phát triển sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản kết hợp mô hình sản xuất nông nghiệp với thuỷ sản, phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng kết hợp giao thông nội đồng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vữngNghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vững
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Phát hiện, đánh giá quá trình thoái hóa đất nông nghiệp và đất đô thị (do xói mòn, bạc màu, mất hữu cơ và ô nhiễm). Đề xuất biện pháp ngăn chặn, sử dụng đất hợp lý, bền vững, nâng cao năng suất cây trồng và quyền lợi của người dân nông thôn và vùng ven đô.

Tạo hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ, giúp quản lý, chỉ đạo nhanh, cập nhật và hữu hiệu tài nguyên đất của tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát và thu thập, biên hội tài liệu về hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Biên hội số liệu, lập tiền dữ liệu về tài nguyên môi trường sinh thái đất Tây Ninh.

Điều tra khảo sát quá trình xói mòn đất dốc Tây Ninh trên nhiều loai đất và nhiều độ dốc khác nhau.

Điều tra và khảo sát quá trình bạc màu hóa đất trong hệ sinh thái cây khoai mì, mía, đậu phộng, lúa, vườn cây ăn trái Tây Ninh.

Điều tra và khảo sát quá trình mất chất hữu cơ ở các vùng đất thung lũng ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh rạch, các bưng trũng cục bộ, xung quanh hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá suy thoái đất trên từng vùng sinh thái nông, lâm nghiệp.

Điều tra tập quán, kinh nghiệm sản xuất, vận dụng, kết hợp kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sử dụng đất tối ưu.

Xác định mức độ suy thoái môi trường sinh thái và suy giảm tài nguyên đất bằng, điều tra năng suất, chất lượng cây trồng theo thời gian.

Xác định mức độ nhiễm đất do chất thải đô thị và công nghiệp vùng ngoại thành, vùng xung quanh các khu công nghiệp tỷ lệ bản đồ 1/50.000.

Thiết lập chuỗi số liệu tài nguyên môi trường để diễn tả tốc độ, chiều hướng suy thoái.

Thành lập các bản đồ suy thoái đất.

Phân vùng suy thoái tổng hợp toàn tỉnh trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

Xây dựng phương án khảo nghiệm sử dụng đất tối ưu trên máy tính.

Xây dựng và thử nghiệm phương pháp pilot xói mòn, bạc màu và mất chất hữu cơ tại một số điểm “nóng”.

Đánh giá rủi ro môi trường đất (do ô nhiễm, mất dưỡng chất, sụt lỡ đất, nứt đất).

Xây dựng phương án khảo nghiệm nhanh bằng phương pháp sử dụng đất tối ưu trên thực địa theo từng hệ sinh thái đất, trên cơ sở bài toán kinh tế sinh thái nông nghiệp.

Đề xuất các thông số chỉ thị cho phát triển bền vững hệ sinh thái môi trường đất nông nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài đã điều tra, nghiên cứu xây dựng thành lập bản đồ hiện trạng nhằm đánh giá mức độ suy thoái đất, đề xuất một số vấn đề phục vụ cho việc sử dụng bền vững tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau: Vấn đề xói mòn đất; bạc màu hoa đất; mất chất hữu cơ; chất thải đô thị và công nghiệp ảnh hưởng lên môi trường đất và đề xuất một số kiến nghị cần thực hiện.

+ Mức độ thoái hóa đất được thể hiện ở một số vấn đề: xói mòn đất, bạc màu hóa đất, mất chất hữu cơ, chất thải đô thị và công nghiệp;

+ Quá trình xói mòn diễn ra trên tỉnh Tây Ninh hầu như thấp so với các khu vực khác trong vùng Đông Nam Bộ. Nếu đi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình có xu hướng thấp dần, nên cường độ xói mòn ít dần. Đối với khu vực Núi Bà Đen, địa hình cao, độ dốc lớn, rất dễ xãy ra xói mòn;

+ Tài nguyên đất Tây Ninh phần lớn là nhóm đất xám (chiếm tới 85,65% tổng diện tích đất tự nhiên), nhóm đất này nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ màu kém, hàm lượng mùn, vi sinh vật trong đất thấp. Điều này gây bất lợi lớn đối với cây trồng;

+ Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, ba nhóm đất tập trung khai thác cho sản xuất đất nông nghiệp là: xám - phèn - phù sa.

Một số khu vực có biểu hiện của quá trình bạc màu như: xã Mỏ Công, Trà Vong, Thạnh Bình, Tân Bình (huyện Tân Biên), Thạnh Đông, Tân Hà, Tân Thành, Tân Hòa (huyện Tân Châu), Long Khánh, Long Phước, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Minh, Phước Ninh, Bến Củi (huyện Dương Minh Châu), Ninh Sơn (thị xã Tây Ninh), Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Trường Đông (huyện Hòa Thành).

Hàm lượng nitơ tổng số trong đất ở Tây Ninh là rất thấp cả vào mùa mưa lẫn mùa khô; ở tầng nông, mùa mưa chỉ từ 0,0011- 0,0153% và mùa nắng từ 0,0001- 0,002%, độ phì nhiêu tiềm tàng của đất kém.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất. Đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, độc tính cao, khó phân hủy sinh học, tích lũy trong đất với thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

Biện pháp chống xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác: lĩnh vực nông nghiệp: chọn thời vụ thích hợp, bón phân, phủ đất; lâm nghiệp: trồng rừng trên đồi núi và dọc ven hồ Dầu Tiếng, theo hệ thống kênh rạch Tây Ninh; hóa học kết hợp với sinh học: dùng chất liên kết màng và cây cỏ che phủ mặt đất quanh năm;

+ Thực hiện công tác quy hoạch đưa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra khỏi khu dân cư. Xử phạt nghiêm khắc các cơ sở sản xuất, đơn vị gây ô nhiễm, nhằm ngăn ngừa lây lan chất ô nhiễm từ các hoạt động của đô thị và khu công nghiệp;

+ Duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất; luân xen canh cây hoa màu; làm bờ thửa cho nhóm đất xám trên phù sa cổ; cải tạo nhóm đất phèn; đẩy mạnh công tác xã hội, khuyến nông, sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng.

Các phần mềm cơ sở dữ liệu dễ sử dụng và là công cụ phục vụ quản lý; hệ thống các bản đồ tỷ lệ 1/50.000 về tiềm năng xói mòn, hiện trạng đất bạc màu, hiện trạng mất hữu cơ, chất lượng môi trường đất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu đã đóng gop vào cơ sở dữ liệu về đất ở Tây Ninh phục vụ các nghiên cứu có liên quan như: đánh giá các quá trình suy thoái tài nguyên môi trường đất nông nghiệp; định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017

​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017

​Năm 2017: nam2017.pdf

01/03/2021 12:00 CHĐã ban hànhTin
Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2016Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2016

​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2016

​Năm 2016: nam2016.pdf

01/03/2021 12:00 CHĐã ban hànhTin
39 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh39 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 24/6/2021 Công nhận 39 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh. 

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Hội đồng đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban thi đua – Khen thưởng, các đợn vị có liên quan và các cá nhân có sáng kiến được công nhận chịu trách nhiệm thi hành quyết định.

Danh sách xem tại đây.



26/06/2021 3:00 CHĐã ban hànhTin
270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Hội đồng đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Thi đua – Khen thưởng, các đơn vị có liên quan và các cá nhân có sáng kiến được công nhận chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
Danh sách chi tiết xem tại đây. Tải về

10/03/2021 2:00 CHĐã ban hànhTin
Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2022Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2022
​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành Quyết định số 1787/QĐ-UBND ngày 23/8/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt Danh mục các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2022


​Nội dung chi tiết xem tại đây. 1787.qdub.signed.pdf

23/08/2022 9:00 SAĐã ban hànhTin
Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây NinhBảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Phan An Cơ quan chủ trì: Hội Dân tộc học Tp. HCM Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 132,905 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Phân loại, đánh giá kho tàng văn hóa truyền thống các dân tộc ít người đã được sưu tầm qua các tư liệu.

-     Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Sưu tầm các dạng thức văn hóa truyền thống hiện đang tồn tại, lưu giữ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh. Tìm hiểu một số vấn đề lịch sử của nhóm Tàmun.

-     Phân loại và hệ thống các di sản văn hóa truyền thống.

-     Thẩm định giá trị các tư liệu văn hóa đã sưu tầm được (có so sánh giữa các địa phương trong tỉnh và ngoài tỉnh).

-     Dựng lại bức tranh toàn cảnh của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.

-     Đề xuất các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Trên lĩnh vực bảo tồn và phát huy văn hóa của các dân tộc ở Tây Ninh, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm, trong đó có truyền thống văn hóa là di sản quý báu của mọi dân tộc và của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam cần được giữ gìn và phát huy. Văn hóa là động lực phát triển đất nước hôm nay và mai sau, xây dựng đất nước phát triển, hiện đại nhưng cần có bản sắc, có giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ.

-     Truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh hết sức đa dạng và phong phú. Đó là những văn hóa thuộc nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, thể hiện qua nhiều lĩnh vực: văn hóa vật thể và phi vật thể, văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa tổ chức - xã hội, văn hóa ứng xử.

-     Từ những di sản nổi trội của người Việt qua chùa miếu và lễ hội Bà Linh Sơn Thánh Mẫu; của người Chăm qua các lễ hội liên quan đến tôn giáo; của người Khmer qua các lễ lớn diễn ra quanh năm trong ngôi chùa Khmer... đến di sản đặc sắc của người Hoa, nổi trội nhất chính là những nét đẹp trong phong tục tập quán, qua ẩm thực, những điệu múa lân, sư, rồng trong những lễ hội ở chùa miếu Hoa.

-     Người Tàmun là tộc danh của một cộng đồng dân cư có tên “Kamuon” là những nhóm thân thuộc của người Chơ ro tách ra hơn một thế kỷ qua; trong quá trình chung sống với người Stieng và Khmer, họ có ảnh hưởng qua lại với hai dân tộc này và cũng có quan hệ hôn nhân diễn ra ngày càng mạnh hơn.

+ Họ theo đạo Cao Đài, tôn giáo này trở thành tôn giáo chính của cộng đồng; một số người cũng đã tham gia chính quyền tại ấp, xã. Xu hướng của họ mong muốn trở thành một tộc người độc lập với tộc danh riêng cũng đã ảnh hưởng và hình thành trong người Tàmun ở Bình Long, Bình Phước. Thông qua đạo Cao Đài cộng đồng người Tàmun đã được thừa nhận công lao không nhỏ trong việc xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh và điều đó đã khiến cho những người trong đạo phải tôn trọng.

-     Truyền thống văn hóa là một thực thể động có sự kế thừa chọn lọc đáp ứng phù hợp thực tế; là kết quả của một quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với cộng đồng các dân tộc cộng cư đến đất Tây Ninh. Họ đã kiến tạo nên đời sống văn hóa, ngược lại văn hóa đã giúp họ trụ vững trước những thử thách để vươn lên và chiến thắng.

-     Văn hóa của các dân tộc thiểu số vừa có nét khác biệt, vừa có sự thống nhất với những nét tương đồng gần gũi nhau từ nếp sinh hoạt đến phong tục tập quán, tín ngưỡng... nhờ vào quá trình cộng cư trãi qua nhiều thế kỷ đoàn kết giúp đỡ nhau để cùng tồn tại và phát triển; đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.

+ Nâng cao ý thức cho người dân, trước hết là bà con dân tộc thiểu số về việc gìn giữ các truyền thống văn hóa của dân tộc mình: do tình trạng nghèo đói khiến không ít bà con chỉ lo cuộc sống vật chất, bươn chải với việc mưu sinh, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị truyền thống văn hóa như một tài sản quý báu của dân tộc, nên họ đã bán những ngôi nhà sàn cổ xưa rất có giá trị văn hóa của mình.

+ Tiếp tục tổ chức các đợt khảo sát, điều tra, sưu tầm các địa phương có đông đồng bào dân tộc để có thể kiểm kê vốn truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Từ đó có chương trình hành động để bảo tồn và phát huy giá trị.

+ Gắn các hoạt động xây dựng văn hóa cơ sở ở địa phương với việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Ninh với các hoạt động du lịch: tùy theo đặc điểm đời sống các vùng dân tộc mà kết hợp gắn các hoạt động sao cho hợp lý; các tuyến du lịch của tỉnh cần có sự kết hợp hướng đến các vùng đồng bào dân tộc, sẽ đem lại lợi ích thu nhập và góp phần bảo tồn, phát huy giá trị.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2634/QĐ-UBND ngày 16/12/2009. Kết quả của đề tài được chuyển giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch; Ban Dân tộc; Ban Tôn Giáo làm tư liệu tham khảo có giá trị về việc nghiên cứu văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh và xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xây dựng lực lượng Công an xã vững mạnh, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về An ninh trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây NinhXây dựng lực lượng Công an xã vững mạnh, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về An ninh trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Văn Chiến Cơ quan chủ trì: Công an Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 – 2006 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 82,895 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Nghiên cứu toàn diện lực lượng Công an xã trong tỉnh: chức năng nhiệm vụ của lực lượng Công an xã trong việc đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự, quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Qua đó đưa ra các giải pháp nhằm củng cố xây dựng lực lượng, khắc phục những hạn chế yếu kém; bồi dưỡng, huấn luyện và trang bị phương tiện hoạt động; chế độ chính sách cho lực lượng Công an xã, để lực lượng này đảm bảo thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn an ninh trật tự (ANTT) ở cơ sở trong tình hình mới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng về biên chế, lực lượng Công an xã toàn tỉnh từ khi có Nghị định 40/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ đến nay. Kết quả đạt được trong thực hiện công tác giữ gìn an ninh trật tự; quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, từ khi có Nghị định 40/CP đến nay và những tồn tại, hạn chế.

- Đánh giá nguyên nhân đạt được, những hạn chế yếu kém về đội ngũ Công an xã, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.

Đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ lớn sau:

- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của các cấp chính quyền, đối với lực lượng Công an xã.

- Tiếp tục củng cố và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ, trong đó tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng tuần tra nhân dân (TTND).

- Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Công an cấp trên đối với lực lượng Công an xã. Tập trung đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị, pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn, cho lực lượng Công an xã.

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, xây dựng lực lượng Công an xã trong thời gian tới.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên chế của Công an các xã, thị trấn trong tỉnh đã được kiện toàn theo mô hình thống nhất: mỗi xã có 01 Trưởng công an xã, 02 Phó công an xã, có từ 03 công an viên thường trực tại xã và mỗi ấp, khu phố bố trí 01 công an viên phụ trách.

- Về trang bị, phương tiện làm việc: hầu hết Công an xã, thị trấn trong tỉnh đều được bố trí từ 01 đến 02 phòng làm việc, nằm trong khuôn viên trụ sở UBND xã, thị trấn; được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, phương tiện thông tin liên lạc, trang phục và các phương tiện khác.

- Lực lượng Công an xã đã phát huy được chức năng nhiệm vụ của mình, đóng vai trò quan trọng việc giữ gìn an ninh trật tự, quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội và trong xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

- Tuy nhiên lực lượng Công an xã cũng còn một số hạn chế, tồn tại như: công tác nắm tình hình chưa kịp thời; công tác quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội còn sơ hở; việc xây dựng và củng cố phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ chưa đáp ứng yêu cầu công tác nghiệp vụ của ngành; trình độ, năng lực đội ngũ Công an xã còn hạn chế.

- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế là: cấp ủy, chính quyền và Công an cấp huyện một số nơi chưa quan tâm đầy đủ việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động Công an xã; lực lượng Công an xã (nhất là công an viên) số lượng không ổn định; nhiều công an viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức vi phạm kỷ luật; trang bị, phương tiện làm việc; chế độ, chính sách đối với Công an xã chưa đảm bảo.

- Giải pháp thực hiện là đào tạo nâng cao trình độ; củng cố tổ chức; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp; sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Công an cấp trên; nhằm xây dựng, củng cố lực lượng Công an xã ngày càng vững mạnh; đào tạo, bồi dưỡng cho Trưởng, Phó trưởng Công an xã và Công an viên vững về nghiệp vụ chuyên môn, pháp luật, lý luận chính trị, đồng thời xây dựng, củng cố lực lượng nòng cốt quản lý địa bàn (mô hình tổ tự quản), góp phần đảm bảo giữ gìn ANTT ở cơ sở, có tính khả thi cao về mọi mặt:

+ Đối với đội ngũ Trưởng, Phó Công an xã và Công an viên: cần nhanh chóng mở lớp đào tạo trình độ Trung cấp nghiệp vụ và Trung cấp chính trị theo kế hoạch của Công an tỉnh, thực hiện theo Quyết định số 1369/QĐ-BCA(X14) của Bộ trưởng Bộ Công an.

+ Đối với đội ngũ Công an viên: hằng năm Công an tỉnh duy trì việc mở lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho tất cả Công an viên các xã, thị trấn trong tỉnh. Đối với số Công an viên mới được tuyển chọn, phải được tập huấn nhiều hơn, nhằm đào tạo, huấn luyện giúp cho lực lượng này nắm vững kiến thức cơ bản về Công an xã và các mặt công tác nghiệp vụ công an.

+ Bố trí Công an chính quy về làm Trưởng hoặc cấp Phó Công an xã, thị trấn, nơi mà những địa phương trọng điểm và phức tạp về ANTT. Tăng cường số lượng Công an viên thường trực tại xã; tuyển chọn cán bộ là người dân tộc làm Công an xã ở những khu vực có đông đồng bào dân tộc cư ngụ theo cộng đồng.

+ Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng làm công tác ANTT ở cơ sở (trong đó đặc biệt chú ý củng cố, nâng cao chất lượng của các Tổ tự quản).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 15/01/2007. Công an tỉnh Tây Ninh tổ chức triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác quản lý của ngành ở 3 xã: Tân Hưng (huyện Tân Châu), Thạnh Bắc (huyện Tân Biên) và Hảo Đước (huyện Châu Thành). Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, Công an tỉnh đề xuất thực hiện những vấn đề trọng tâm sau:

- Đề xuất Bộ Công an:

+ Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị định 40/NĐ-CP về Công an xã, trên cơ sở đó đề xuất Bộ Công an đề nghị Chính phủ ban hành Pháp lệnh về Công an xã (thay thế cho Nghị định 40/NĐ-CP);

+ Ban hành chế độ công tác của lực lượng Công an phụ trách xã để thống nhất việc điều hành, quản lý hoạt động của lực lượng Công an xã trên toàn quốc;

- Đề xuất UBND tỉnh:

+ Tăng số lượng Công an viên thường trực tại xã theo hướng xã, thị trấn có dân số dưới

9.000 người, thì được bố trí 03 Công an viên thường trực tại xã; nếu xã, thị trấn có số dân trên 9.000 người trở lên thì cứ tăng 3.000 người dân được bố trí thêm 01 Công an viên thường trực .

+ Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 428/QĐ-UB ngày 07/7/1994, trên cơ sở đó đề xuất UBMTTQ Việt Nam tỉnh Tây Ninh phối hợp với các ngành chức năng ban hành quy chế mới về hoạt động của Tổ tự quản, đồng thời tính toán điều chỉnh lại quy mô của các Tổ tự quản theo hướng giảm bớt số hộ dân trong mỗi tổ, để thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh.

+ Ban hành văn bản có tính pháp quy, quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và các vấn đề khác về lực lượng TTND.

+ Chỉ đạo các ngành chức năng triển khai việc xây dựng nhà tạm giữ hành chính tại các xã, phường, thị trấn, thực hiện theo Quyết định số 80/2002/QĐ-UB ngày 30/7/2002.

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu chọn lọc giống và các định biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nâng cao năng suất phẩm chất mãng cầu Tây NinhNghiên cứu chọn lọc giống và các định biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nâng cao năng suất phẩm chất mãng cầu Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Xuân Khôi Cơ quan chủ trì: Trung tâm Giống Nông nghiệp Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 306,104 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá tiềm năng, xác định các yếu tố giới hạn cần khắc phục trong hiện trạng sản xuất và thị trường tiêu thu cây mãng cầu ta (MC) tại Tây Ninh.

- Xác định tập đoàn giống và tuyển chọn các dòng MC tốt cho sản xuất.

- Xác định một số biện pháp canh tác thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất cây MC trên địa bàn, tạo điều kiện hướng đến thương hiệu đặc trưng của MC Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra hiện trạng sản xuất MC tại Tây Ninh.

- Khảo sát tập đoàn giống/dòng MC tại Tây Ninh.

- Thu thập các thông số, đặc điểm, chất lượng trái tại thời điểm thu hoạch, thông tin các tiêu chuẩn trái theo yêu cầu thị trường.

- Điều tra, theo dõi các cá thể MC tốt để đưa vào sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường.

- Triển khai các thí nghiệm nghiên cứu gồm có: nghiên cứu hiệu quả một số phương pháp ghép chuyển giống trên cây MC; liều lượng phân bón ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất cây MC; hiệu quả của biện pháp bấm, tỉa ngọn cành trước ra hoa và tỉa thưa trái MC; độ chín thu hoạch trái MC nhằm đảm bảo chất lượng trái theo yêu cau của Thị trường; Hiệu quả mot số hóa chat làm rụng lá trước khi ra đọt non trên cây MC.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Hiện trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ MC, các thế mạnh và hạn chế cần khắc phục.

+ Các vườn trồng mãng cầu ta nhân giống bằng hạt, vườn cây không thuần giống, năng suất quả loại một thấp.

+ Việc sử dụng phân bón và phân bón lá khác biệt lớn về số lượng, chủng loại nhưng chưa nắm được sự cân đối dinh dưỡng và sự lãng phí dinh dưỡng, chi phí sản xuất cao, rủi ro lớn.

+ Một số đối tượng gây hại mãng cầu như bọ trĩ, rệp sáp, bọ vòi voi, ruồi đục quả bệnh nứt thân xì mủ đã trở thành mối hiểm họa lớn cho người trồng mãng cầu, mặc dù cường độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cao nhưng chưa kiểm soát có hiệu quả.

+ Nhà vườn tiêu thụ sản phẩm thiếu sự liên kết để tập trung sản lượng theo từng chủng loại sản phẩm, theo từng thị trường nên giá cả tuy cao nhưng phải qua quá nhiều khâu trung gian làm giá tiêu thụ tại vườn thấp.

+ Việc sơ chế, bao bì đóng gói sản phẩm còn thô sơ nên ảnh hưởng chất lượng, hình thức sản phẩm làm giảm giá trị thương phẩm.

+ Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm hướng tới an toàn thực phẩm, cần sản xuất mãng cầu ta theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), trong đó cần nghiên cứu quy trình kiểm soát tổng hợp cho các đối tượng gây hại như: rệp sáp, bọ trĩ, bọ vòi voi, ruồi đục quả và bệnh nứt thân xì mủ.

+ Cần liên kết xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm hướng đến việc sản xuất - tiêu thụ sản phẩm vừa bảo đảm đồng bộ về tiêu chuẩn, quy cách vừa đáp ứng số lượng và chất lượng cho từng loại thị trường.

- Ghi nhận tập đoàn giống và các cá thể MC tốt: 4 cá thể MC sinh trưởng tốt (MC dai, MC bở, MC Thanh long và MC tím) Trong đó, MC dai là giống chủ yếu chiếm tỷ lệ 98.05% trong cơ cấu giống các vườn điều tra.

- Phương pháp ghép chuyển giống MC thích hợp đạt yêu cầu khoa học và ứng dụng.

+ Kết quả bình tuyển cây đầu dòng đã phát hiện bốn cá thể ưu tú, trong đó có cá thể MCTN08 có đặc điểm nổi trội về năng suất đạt (16 kg/cây/vụ). Ngoài ra các cá thể khac MCTN05, MCTN04, MCTN11 năng suất khá cao và mỗi giống có một trong số ưu điểm khác biệt tốt hơn so với bình quân quần thể như: ít hạt, tỷ lệ phần ăn được cao, độ brix cao, tỷ lệ đậu quả cao.

So sánh bốn kiểu ghép cho thấy kiểu ghép mắt bo da và ghép vát ngọn với tuổi gốc ghép 10 - 12 tháng, cành ghép là đoạn cành đã rụng lá có 2 - 3 mắt lá cho tỷ lệ sống và cây con giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn tốt nhất với tỷ lệ ghép thành công ở ghép mắt (74%), ghép vát ngọn (60%).

- Công thức phân bón hữu cơ, kết hợp vô cơ, phân bón lá, bổ sung vi lượng sử dụng trên cây MC tại Tây Ninh đạt yêu cầu kỹ thuật.

+ Liều lượng sử dụng phân bón vô cơ và hữu cơ cho cây mang cầu ta đã xác định được công thức phân bón qua đất gồm: 300gN + 150g P2O5 + 300gK2O + 75gMgSO4 + 20kg

Phân chuồng hoai/cây và bón bổ sung qua lá công thức phân bón theo tỷ lệ N:P:K (1:1:1), (0,5: 2:1), (1:1:3) và có bổ sung vi lượng (B0 , Zn , Mn ) tương ứng vơi các giai đoạn: sau thu hoạch, trước ra hoa, nuôi quả cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất ở cả 2 vụ thí nghiệm.

- Kỹ thuật bấm tỉa ngọn cành trước ra hoa và tỉa thưa trái, thời điểm thu hoạch trái thích hợp trên cây MC tại Tây Ninh đạt yêu cầu khoa học, dễ áp dụng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

+ Kỹ thuật bấm ngọn cành, tỉa thưa quả ở 2 vụ sản xuất (vụ mưa và vụ nắng) cây vẫn ra hoa nhưng việc bấm ngọn cành cây ra hoa chậm và kéo dài hơn kỹ thuật tuốt lá bằng tay không bấm ngọn cành. Kỹ thuật tỉa thưa quả ở các mức độ quả trên cây khác nhau cho kết quả: ở vụ mùa mưa mức để lại 50-70 quả/cay và vụ mùa nắng mức để lại 50 qua/cây cho năng suất thực thụ và quả loại 1 cao đạt hiệu quả kinh tế nhất.

- Xác định hóa chất làm rụng lá trước khi ra đọt non trên cây MC thích hợp.

+ Sử dụng hóa chất thiourea, ethephone cho thấy: ở các nồng độ thí nghiệm có tác động đến sự rụng lá và ảnh hưởng đến ra hoa mãng cầu ta nhưng mức độ thấp hơn so với tuốt lá bằng tay và khác nhau ở 2 vụ sản xuất, ở vụ mưa (vụ 1) sử dụng hóa chất cây vẫn cho năng suất nhưng ở vụ nắng (vụ 2) ra hoa và năng suất thấp hơn so với kỹ thuật tuốt lá. Tuy nhiên, chi phí sử dụng hóa chất thiourea, ethephone xử lý ra hoa mãng cầu ta thấp hơn hoặc tương đương với công lao động tuốt lá, riêng hóa chất thiourea chi phí thấp hơn nhiều.

- Kết quả nghiên cứu độ chín mãng cầu ta chỉ ra rằng: ngày thu hoạch mãng cầu ta thích hợp khoảng 92 - 96 ngày (tính từ khi nở hoa tới khi thời điểm thu hoạch). Sau khi thu hoạch để ở nhiệt độ phòng trong vòng 4-5 ngày quả sẽ chín và cho chất lượng tốt.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2079/QĐ-UBND ngày 16/9/2008. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

- Giúp cho nông dân sản xuất mãng cầu hiểu biết được: vùng đất và kỹ thuật trồng mãng cầu; Giống và cách nhân giống mãng cầu; kỹ thuật bón phân; dịch hại trên cây mãng cầu và biện pháp phòng trừ; cách bảo quản thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.

Cách thu hoạch, phân loại và bảo quản sản phẩm; sức khoẻ, an toàn và an sinh của người lao động.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2013Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2013
Ngày 21/02/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2013 tại Quyết định số 334/QĐ-UBND

 

 

Danh mục gồm 09 đề tài và dự án:

I. Lĩnh vực khoa học xã hội

1. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận cơ sở tỉnh Tây Ninh

    Cơ quan chủ trì: Ban Dân vận Tỉnh ủy Tây Ninh.

2. Giải pháp nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh từ nay đến năm 2020.

    Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh.

3. Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh.

4. Điều tra, nghiên cứu và xây dựng mô hình tổ chức hoạt động các trung tâm văn hóa, sinh hoạt cộng đồng xã, phường, thị trấn và nhà văn hóa ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa tỉnh Tây Ninh.

5. Biên soạn tài liệu văn học địa phương tỉnh Tây Ninh để giảng dạy trong trường phổ thông.

    Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh.

II. Lĩnh vực khoa học và công nghệ

6. Điều tra, nghiên cứu biện pháp chẩn đoán, phòng trừ bệnh hại chính trên cây khoai mì tại Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường Đại học Nông Lâm.

7. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sau thu hoạch vào duy trì chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản cho quả mãng cầu ta Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh.

III. Lĩnh vực khoa học Y, Dược

8. Đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông tại Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Kiểm dịch Y tế Quốc tế Tây Ninh.

9. Đánh giá các yếu tố nguy cơ của những bệnh không lây ở Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Viện vệ sinh Y tế công cộng Tp.HCM

 

Quyết định và Danh mục cụ thể kèm theo

 

 

 

03/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây NinhNghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Minh Trọng Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2000 - 2002 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 717,28 triệu đồng (hỗ trợ kinh phí) Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

- Đối với cấp huyện, thị: nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975- 1995) nhằm nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn của 20 năm, rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

- Đối với cấp xã: Nêu bật vai trò của Đảng bộ xã lãnh đạo và chỉ đạo phong trào chiến tranh nhân dân trên địa bàn của mình, vượt mọi khó khăn gian khổ hy sinh lập nên những chiến tích anh hùng, đánh bại những âm mưu thủ đoạn của thực dân pháp và đế quốc Mỹ trên địa phương của mình.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các huyện: Thị xã, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Tân Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng và 17 xã anh hùng như: Phường 1, Phường 2 thị xã Tây Ninh; An Thạnh huyện Bến Cầu; Chà Là, Cầu Khởi huyện Dương Minh Châu; Hiệp Thạnh, Thanh Phước huyện Gò Dầu; Lộc Hưng, Gia Lộc huyện Trảng Bàng; Trường Đông, Ninh Thạnh huyện Hòa Thành; Thạnh Bình, Hòa Hiệp huyện Tân Biên; Tân Đông, Tân Hưng huyện Tân Châu; Thanh Điền, Thái Bình huyện Châu Thành.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tài liệu chuẩn xác về lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 1995) và truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975) tỉnh Tây Ninh .

- Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành (1975 - 2000)

+ Đảng bộ và quân dân Châu Thành phấn khởi thấy huyện nhà đã có bước tiến khá dài, đạt được những thành tựu rất quan trọng. Đến năm 2000, lương thực bình quân đầu người đạt 934,2 kg/năm; sản lượng công nghiệp tăng hàng trăm lần so với năm 1976; hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển sôi động và khá nhộn nhịp, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh.

+ Đảng bộ, Mặt trận ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng (Đảng bộ tăng 3,5 lần; Mặt trận, đoàn thể tăng từ 5 đến 10 lần); bộ máy chính quyền ngày càng được củng cố vững chắc.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Trảng Bàng (1975 - 2000).

+ Trảng Bàng được xác định là huyện trọng điểm về sản xuất lương thực của tỉnh Tây Ninh; các lĩnh vực văn hóa xã hội có những bước tiến tích cực. Hệ thống tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể được xây dựng và kiện toàn, chính trị từng bước được ổn định dần và được củng cố vững chắc hơn.

+ Kinh tế nhiều thành phần phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được đẩy mạnh; giao thông từ huyện về xã được nhựa hóa, đường về các ấp được nâng cấp trãi sỏi đỏ, thuận lợi cho đi lại của nhân dân; hệ thống điện lưới quốc gia đã về 100% ấp; sự nghiệp giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng.

+ Đảng bộ huyện Trảng Bàng luôn tăng về số lượng và chất lượng; đến năm 2000, toàn Đảng bộ đã có 2001 đảng viên sinh hoạt ở 49 chi đảng bộ cơ sở. Tất cả các ấp trong huyện điều có chi bộ lãnh đạo.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Bến Cầu (1975 - 2000).

+ Thời kỳ 10 năm sau giải phóng, nhiệm vụ chính là cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, lấy sản xuất lương thực làm nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, khôi phục và phát triển các ngành sản xuất, các hoạt động văn hóa - xã hội để từng bước ổn định đời sống nhân dân.

+ Từ năm 1991 - 2000, giai đoạn này tình hình kinh tế - xã hội của huyện đi vào thế ổn định và phát triển khởi sắc, khá toàn diện. Việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương từng bước phù hợp và có hiệu quả hơn, từ đó đã tạo ra được những bước tiến khá mạnh mẽ trên các lĩnh vực.

- Lịch sử Đảng bộ Thị Xã (1975 - 2000).

+ Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thị Xã cùng với sự nổ lực của nhân dân Thị xã đã trãi qua những bước thăng trầm của từng thời kỳ lịch sử, cố gắng vượt qua nhiều khó khăn thử thách để từng bước đi lên, nhất là từ khi có đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, đã nổ lực phấn đấu để xây dựng Thị xã Tây Ninh thành một Thị xã hoàn chỉnh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Châu (1989 - 2000).

+ Tân Châu là huyện mới thành lập, cho nên việc phát triển cơ sở hạ tầng được Đảng bộ huyện xác định là nhiệm vụ trọng tâm; ưu tiên đầu tư cho phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục đào tạo tác động tích cực vào quá trình ổn định xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Gò Dầu (1975 - 2000).

+ Trên cơ sở phát huy truyền thống cách mạng tốt đẹp của mình và thuận lợi tiềm năng kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cấp trên; toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Gò Dầu vẫn từng bước kiên trì vươn lên, nỗ lực thực hiện và giành được nhiều thành tựu đáng kể trên hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động, tạo tiền đề để huyện bước vào thời kỳ mới tốt đẹp hơn.

+ Về sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2000 tăng 2,1 lần so năm 1997; mạng lưới thủy lợi được hình thành khắp trong toàn huyện với 46,6 km kênh cấp I; 103,8 km kênh cấp II và 150 km kênh cấp III đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho hơn 4.000 ha cây trồng toàn huyện.

+ Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ: ngày càng phát triển, nhất là xay xát và chế biến, các yêu cầu về sửa chữa cơ khí được đáp ứng tốt; cơ sở vật chất hạ tầng của huyện ngày càng được tập trung xây dựng và mở rộng.

+ Các hoạt động văn hóa - xã hội; ngày càng có sự chuyển biến đáng kể; nhu cầu học tập của con em nhân dân được đáp ứng tốt; trang thiết bị ngành Y tế được tăng cường, đội ngũ Y-Bác sĩ được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Biên (1975 - 2000)

+ Tân Biên chỉ thực sự bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế từ những năm 80 của thế kỷ 20; đây là giai đoạn đặc biệt trong bối cảnh những khó khăn chung của đất nước, đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Tân Biên từng bước vượt qua, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, giữ vững an ninh địa bàn và tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng bảo đảm vững chắc biên giới.

+ Từ năm 1990 - 2000, Đảng bộ Tân Biên quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ và tạo đà vững chắc bước vào thế kỷ XXI; tiếp tục củng cố và phát triển huyện nhà ngày càng giàu đẹp.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Dương Minh Châu (1975 - 2000)

+ Về công tác xây dựng Đảng, huyện đã quan tâm tổ chức nhiều đợt học tập chỉnh huấn nghị quyết của Đảng; không ngừng cải tiến tác phong lề lối làm việc, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, gắn liền với tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

+ Đảng bộ huyện Dương Minh Châu xác định; xây dựng Đảng vững mạnh trên cả 3 mặt (chính trị, tư tưởng và tổ chức) là nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi.

+ Quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân của huyện là quá trình phát huy truyền thống yêu nước, tin Đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn lịch sử.

- Truyền thống cách mạng của 17 xã anh hùng: đã trải qua nhiều hy sinh gian khổ, cùng một lúc phải đương đầu trực tiếp với nhiều kẻ thù nguy hiểm. Nhưng nhân dân các xã quyết một lòng theo Đảng, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm đề tài được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy in thành sách gồm: sách lịch sử đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 2000); sách truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975).

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá mức độ lan truyền các chất ô nhiễm của nước thải sản xuất chế biến đường, tinh bột mì, cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đề xuất các giải pháp quản lý và biện pháp khắc phục ô nhiễm nước ngầmNghiên cứu, đánh giá mức độ lan truyền các chất ô nhiễm của nước thải sản xuất chế biến đường, tinh bột mì, cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đề xuất các giải pháp quản lý và biện pháp khắc phục ô nhiễm nước ngầm
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Phước Dân Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 202 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Điều tra đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước ngầm do nước thải sản xuất chế biến đường, bột mì và cao su trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

- Dự báo tình hình lan truyền chất ô nhiễm vào trong đất và nước ngầm. Đề xuất các giải pháp quản lý và các biện pháp khắc phục ô nhiểm nước ngầm do nước thải sản xuất chế biến đường, bột mì và cao su, góp phần cung cấp cơ sở khoa học, tham vấn cho các cơ quan chức năng quy hoạch và phát triển các ngành kinh tế của Tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát, điều tra thực trạng diện tích, sản lượng, số lượng các cơ sở, mức độ ô nhiễm của tầng nước ngầm trong các khu vực có các cơ sở chế biến tinh bột, đường, cao su. Đánh giá những tác động ảnh hưởng của nó đến môi trường, đất, nước, khí và kinh tế xã hội, thực trạng các hệ thống xử lý nước hiện nay trong tỉnh và thu thập các công nghệ điển hình trong và ngoài nước, từ đó đề xuất các phương pháp xử lý nước thải phù hợp với từng ngành.

- Thu thập các số liệu về địa chất, trữ lượng nước ngầm ở các khu vực sản suất từ đó đánh giá khả năng tự thấm của đất.

- Khảo sát thành phần, tính chất của nước thải đặc trưng của ngành chế biến nông sản trong nước ngầm hiện nay. Phân tích thành phần nước thải chế biến tinh bột mì, đường và cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm mạch nông xung quanh các cơ sở chế biến tinh bột mì, đường, cao su. Từ đó nghiên cứu, đánh giá những tác động ảnh hưởng đến môi trường như: đất, khí, nước và kinh tế xã hội xung quanh các cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ảnh hưởng đến kinh tế xã hội và sức khỏe nhân dân trong khu vực có các cơ sở hoạt động.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Tình hình sử dụng và quản lý nước ngầm ở Tây Ninh: Tây Ninh là tỉnh có tiềm năng nước dưới đất phong phú, việc khai thác và sử dụng nước ngầm ở đây đã có từ trước năm 1975; hiện nay quy mô khai thác nước ngầm ngày càng phát triển rộng, các ngành sản xuất tinh bột mì, cao su, chế biến đường sử dụng nước ngầm phục vụ cho sản xuất (với tổng lượng nước tiêu thụ trung bình khoảng 67.400 m3/ngày cho cả 03 đơn vị sản xuất);

- Kết quả phân tích mẫu nước ngầm, mẫu nước mặt, mẫu nước thải tại những khu vực có cơ sở chế biến tinh bột mì, đường và cao su.

+ Theo kết quả khảo sát, khoảng 90% nhà máy chế biến khoai mì trong khu vực có hồ ổn định nước thải không có lớp lót chống thấm và đa số đều bị quá tải, nước sau xử lý không đáp ứng được tiêu chuẩn xả thải;

+ Nước thải chế biến mủ cao su thuộc loại có tính chất gây ô nhiễm nặng (ô nhiễm hữu cơ và ô nhiễm chất dinh dưỡng), nước thải này dể phân hủy kỵ khí tạo thành khí H2S và mercaptan là những hợp chất không những gây độc và ô nhiễm môi trường mà chúng còn là nguyên nhân gây mùi hôi thối ảnh hưởng đến môi trường và dân cư trong khu vực, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và có thể gây nên quá trình phú dưỡng khác;

+ Nước thải nhà máy sản xuất đường có nồng độ chất hữu cơ cao, biến thiên lớn, tỷ số BOD/COD lớn, chứng tỏ nước thải dể phân hủy sinh học; hiệu quả xử lý của hệ thống nước thải ở các nhà máy vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn (COD> 100 mg/l, BOD5>50 mg/l), hệ thống hồ tùy nghi tiếp nối hồ kỵ khí (không chống thấm) gây ô nhiễm các giếng lân cận.

- Các cơ sở sản xuất tinh bột mì, cao su và cơ sở sản xuất đường ở Tây Ninh chưa có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh, gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt tiếp nhận, ảnh hưởng đến chất lượng tầng nước ngầm.

- So với tiêu chuẩn nước dùng cho ăn uống TCVN 5501 - 1991 thì nồng độ BOD và COD trong nước ở khu vực này cao hơn gấp nhiều lần.

- Trong tương lai, nếu các nhà máy sản xuất này, đặc biệt là các nhà máy sản xuất cao su nếu tăng công suất và không có biện pháp xử lý thích hợp thì mức độ nhiễm nước ở tầng 1 khu vực các nhà máy sẽ có nồng độ các chất ô nhiễm vượt mức tiêu chuẩn nhiều lần.

- Để giảm thiểu việc khai thác nước ngầm và giảm thiểu ô nhiễm, cần kiểm soát khai thác nước ngầm; giảm nhu cầu dùng nước; tăng lượng nước bổ cập bằng cách bảo tồn tầng chứa nước; ban hành các luật quy định và tiêu chuẩn hợp lý về bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm; quy hoạch lại các ngành sử dụng nhiều nước. Một số giải pháp kỹ thuật khả thi có thể áp dụng:

+ Xử lý tại chỗ bằng thấm nhanh qua đất: nước ngầm ô nhiễm được bơm lên xử lý sơ bộ, châm chất dinh dưỡng, sục khí. Sau đó, nước được đưa vào hệ thống ống phân phối hoặc mương phân phối và được bơm trực tiếp vào đất nhờ vào quá trình phân hủy của vi sinh vật trong đất, nồng độ chất ô nhiễm giảm đáng kể (xung quanh ống phân phối được bao bọc bằng lớp đá dăm);

+ Xử lý tại nguồn thải: chống thấm toàn bộ hồ chứa sẵn có bằng lớp chống thấm HPDE, tránh không cho nước thải thấm xuống đất vào tầng nước ngầm; xây dựng hệ thống tiền xử lý đạt tiêu chuẩn loại C;

+ Xử lý xa nguồn: nước ngầm ô nhiễm được bơm vào hệ thống xử lý, đưa qua bể lọc sinh học tiếp xúc có sục khí, đi vào bể lắng, vào cột lọc cát nhằm khử SS cũng như phần hữu cơ còn sót lại.

- Nâng cao năng lực của cán bộ chuyên môn về quản lý tài nguyên nước ngầm, mở rộng mạng lưới cấp nước và tuyên truyền ý thức sử dụng nước sạch sâu rộng đến từng người dân, từng gia đình trong tỉnh;

- Phần mềm dự báo lan truyền các chất ô nhiễm từ các cơ sở sản xuất tinh bột mì, cao su, mía đường ảnh hưởng đến nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; bảng đồ hiện trạng tỷ lệ 1/25.000.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 413/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu đã đạt được làm cơ sở giúp cho Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh xây dựng biện pháp quy hoạch, quản lý và xử lý nước ngầm thích hợp cho tỉnh Tây Ninh.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017.

Trong tổng số 430 sáng kiến được công nhận cấp tỉnh, có 06 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), tiêu biểu như "kinh nghiệm tổ chức một số mô hình trong phong trào thi đua "xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" của ông Lê Văn Ngân và ông Lê Thành Nhân (Trường Tiểu học Thuận An), mô hình bếp ăn "Thân thiện" tiếp sức học trò nghèo của ông Nguyễn Văn Quây (Trường THPT Quang Trung).

Có 270 sáng kiến xếp loại B (khá), còn lại đạt loại C (Trung bình).

Những sáng kiến được công nhận là cơ sở để quan trọng để xét, công nhận Danh hiệu "Chiến sỹ thi đua" cấp tỉnh, là nguồn tri thức quan trọng để ngành Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh nghiên cứu, áp dụng đại trà nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của những năm học tiếp theo./.

Thái Thành

04/10/2017 8:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Chung nhan Tin Nhiem Mang Số giấy phép: 02/GP-TTĐT, Sở Thông tin và Truyền thông Tây Ninh cấp ngày 22/09/2021.
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, Tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính:  Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh.
Điện thoại: 0276.3822233 - Email:toweb@tayninh.gov.vn.