Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học - Danh mục các chương trình, đề tài
 
​Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2016
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2018
 
​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2020
 
Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.
 
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:
 
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong ...
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium ...
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây NinhXây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đoàn Ngọc Toản Cơ quan chủ trì: Liên đoàn ĐCTV- ĐCCT miền Nam (nay là Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước MN) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 600,503 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-  Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chất công trình (ĐCCT) và các chương trình hỗ trợ để thành lập các bản đồ ĐCCT. CSDL có khả năng lưu trữ và cập nhật các tài liệu khảo sát ĐCCT toàn tỉnh, nhất là địa bàn thị xã và thị trấn.

-  Xây dựng chương trình hỗ trợ thành lập cột địa tầng, mặt cắt và các bản đồ ĐCCT chuyên môn phục vụ cho các ngành kinh tế và khoa học khác nhau.

-  Thành lập loạt bản đồ ĐCCT phục vụ cho quy hoạch xây dựng và sử dụng hợp lý tài nguyên đất khu vực thị xã Tây Ninh.

-  Đào tạo cán bộ kỹ thuật ứng dụng các kết quả nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Thu thập toàn bộ số liệu các công trình nghiên cứu về ĐCCT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Phân loại, sắp xếp các số liệu cần lưu trữ để nhập vào CSDL.

-  Xác định mối quan hệ của các số liệu lưu trữ, các công thức tính toán trên tập hợp các số liệu.

-  Xác định các dạng bản vẽ, các biểu bảng, các loại đồ thị cần xuất ra từ CSDL

-  Xây dựng các bảng cần thiết để lưu trữ số liệu.

-  Xây dựng các quan hệ, các ràng buộc toàn vẹn, các miền giá trị.

-  Xây dựng các giao diện để nhập, xuất, kiểm tra số liệu.

-  Viết các hàm, modules để CSDL hoạt động.

-  Viết các chương trình hỗ trợ thành lập các bản vẽ, mặt cắt, biểu đồ, trên cơ sở các số liệu được xuất ra từ CSDL.

-  Tạo liên kết giữa CSDL với bản đồ, đưa các số liệu trong CSDL trở thành các đối tượng, các thuộc tính của đối tượng GIS.

-  Số liệu trong CSDL được liên kết với bản đồ, các bảng trong CSDL là thuộc tính của bản đồ Người khai thác số liệu có thể tìm kiếm thông tin từ CSDL hoặc từ các bản đồ liên quan.

-  Dựa trên CSDL tính toán các chỉ tiêu cơ lý của đất đá và in ra các biểu bảng, đồ thị thống nhất, giúp cán bộ làm công tác khảo sát ĐCCT dễ dàng thành lập các bản vẽ và biểu bảng cần thiết cho công tác lập báo cáo khảo sát.

-  Viết hướng dẫn sử dụng, biên tập thành file help.

-  Dựa trên CSDL và các phần mềm hỗ trợ tiến hành thành lập loạt bản đồ ĐCCT khu vực thị xã Tây Ninh, phục vụ cho công tác quy hoạch xây dựng, quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên đất.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Đề tài đã thu thập phong phú, đầy đủ các tài liệu về địa chất, địa mạo, ĐCCT đã có trong vùng, đã chỉnh lý chi tiết và có hiệu quả tài liệu điều tra cơ bản của vùng, đặc biệt trong việc phân tích chỉnh lý tài liệu ĐCCT.

-  Thành lập cơ sở dữ liệu ĐCCT trong môi trường nhiều người dùng, tương thích với hệ thống thông tin địa lý (GIS) lưu trữ các loại số liệu về kết quả nghiên cứu ĐCCT, cung cấp số liệu cho các chương trình và phần mềm xử lý số liệu. Viết các chương trình hỗ trợ cho công tác lập bản vẽ, bản đồ ĐCCT. CSDL và các chương trình hỗ trợ là một phần mềm máy tính chuyên dùng trong công tác nghiên cứu ĐCCT.

-  Cơ sở dữ liệu ĐCCT tỉnh Tây Ninh được xây dựng dựa trên các đặc điểm về địa hình (đồi núi, thành tạo do sông), cấu trúc địa chất, và tính chất cơ lý của đất đá, vật liệu xây dựng. Kết quả phân vùng ĐCCT ở Tây Ninh thành 05 vùng, mỗi vùng có điều kiện và đặc trưng riêng.

+ Địa hình đồi núi: bao gồm các sườn núi thành tạo trên các khối xâm nhập (núi Bà Đen), có độ dốc trung bình 15 - 400 đến 50 - 600; trắc địa dọc của địa hình có dạng lõm, mạng lưới dòng chảy tạm thời rất phát triển.

+ Địa hình thành tạo do sông: chiếm phần diện tích còn lại của vùng nghiên cứu như: bãi bồi ven lòng tuổi Holocen muộn, thời muộn (Q2), thềm tích tụ - xâm thực bậc II tuổi Pleistocen muộn, thời muộn (Q1 3), thềm xâm thực tích tụ bậc III tuổi Pleistocen muộn, thời sớm (Q1  1).

+ Cấu trúc địa chất: các trầm tích đệ tứ bao gồm các thành tạo nguồn gốc sông và nguồn gốc sông - đầm lầy phân bố gần như rộng khắp trong vùng nghiên cứu; các thành tạo magma xâm nhập phân bố ở phía Đông với diện tích khoảng 6 km.

+ Đặc điểm địa chất thủy văn: nhìn chung mực nước ngầm trong vùng nghiên cứu nằm nông, nước dưới đất trong vùng có 3 loại ăn mòn đối với bê tông: chủ yếu là ăn mòn rủa lũa, ăn mòn carbonic, ăn mòn axit. Trong vùng không hiện diện ăn mòn sulfat, tại vị trí lỗ khoan DT1 nước không có khả năng ăn mòn.

+ Tính chất cơ lý của đất đá: trong phạm vi ảnh hưởng của móng các công trình xây dựng và nền đất (0 - 30m) các thành tạo đất đá được phân chia thành 4 loạt thạch học là loạt thạch học deluvi, loạt thạch học sông - đầm lầy, loạt thạch học sông và loạt thạch học magma xâm nhập và được chia thành 9 phức hệ thạch học. Các phức hệ thạch học được chia ra 21 kiểu thạch học. Nhìn chung phần lớn diện tích nghiên cứu có cấu trúc đất nền và tính chất cơ lý của đất đá thuận lợi cho việc đặt móng xây dựng công trình.

+ Vật liệu xây dựng: trong phạm vùng nghiên cứu, nguồn vật liệu xây dựng khá hạn chế, chủ yếu là đá xây dựng, cuội sỏi và đất san lấp.

- Kết quả phân vùng địa chất công trình:

+ Vùng thị xã Tây Ninh thuộc miền VII địa chất công trình toàn quốc và được chia thành 4 vùng là vùng đồi núi, vùng đồng bằng xâm thực tích tụ, đồng bằng tích tụ - xâm thực và đồng bằng tích tụ.

+ Vùng đồi núi phân bố ở phía Đông thị xã Tây Ninh và được phân thành 2 khu địa chất công trình VIIA1 và VIIA2. Các khu này không thuận lợi cho xây dựng.

+ Vùng đồng bằng xâm thực tích tụ phân bố chủ yếu ở phía Bắc và một phần ở phía Đông Nam của thị xã Tây Ninh và được chia thành 3 khu địa chất công trình VIIB1, VIIB2, và VIIB3. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ xâm thực phân bố chủ yếu ở phía Tây, phía Nam và trung tâm của thị xã Tây Ninh và được chia ra thành 2 khu địa chất công trình VIIC1, VIIC2. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ phân bố củ yếu ở phía Tây, Tây Nam dọc theo rạch Tây Ninh và các rạch nhỏ trong vùng. Được chia thành 6 khu địa chất công trình VIID1, VIID2, VIID3, VIID4, VIID5 và VIID6. Các khu VIID4, VIID5 và VIID6 không thuận lợi cho xây dựng. Khi có nhu cầu xây dựng tại đây cần sử dụng giải pháp gia cố nền hoặc móng thích hợp.

-  Số lượng tài liệu địa chất công trình thu thập được chủ yếu tập trung ở trung tâm của thị xã. Vì vậy số lượng lỗ khoan trên bản đồ phân bố không đều, có những vùng còn chưa có các công trình nên việc nghiên cứu, phân chia ra các cấp nhều dày của các phức hệ thạch học còn mang tính định tính và chủ yếu dựa vào độ cao địa hình.

-  Bản đồ ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng thị xã Tây Ninh (TXTN) và các mặt cắt đi kèm, bản đồ phân vùng ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN; bản đồ cột địa tầng lỗ khoan tỷ lệ 1/10.000 và bản đồ tài liệu thực tế ĐCCT tỷ lệ 1/10.000, bản đồ sức chịu tải quy ước tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 463/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi), Sở Giao thông Vận tải, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Xây dựng ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây NinhBiên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Tiến Tùng Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 648.857,5 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Làm sáng tỏ quy luật phân bố tài nguyên nước dưới đất, diễn biến số lượng và chất lượng nước dưới đất do tác động của các hoạt động kinh tế ở tỉnh Tây Ninh trong thập kỷ gần đây.

- Đề xuất công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu, điều tra bổ sung, đánh giá chất lượng và trữ lượng nước dưới đất.

- Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh.

- Lập một mô hình dòng chảy nước dưới đất cho toàn bộ khu vực Gò Dầu - Bến Cầu - Trảng Bàng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên hội các bản đồ: bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/50.000; Bản đồ triển vọng khai thác nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000; Các bản đồ phụ trợ và 7 phụ lục; Cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn; Mô hình dòng chảy khai thác nước dưới đất khu vực Gò Dầu, Bến Cầu, Trảng Bàng.

- Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 203.616 công trình khai thác nước dưới đất, trong đó có 83.813 giếng đào vá 119.803 lỗ khoan. Lưu lượng khai thác nước dưới đất phục vụ ăn uống, sinh hoạt, sản xuất là 110.248 m3/ngày.

- Theo sự phân chia địa tầng mới nhất, Tây Ninh được phân chia 8 tầng chứa nước (6 tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích bở rời, 2 tầng chứa nước khe nứt trong đá bazan Pleistocen giữa và các đá nứt nẻ trước Kainozoi) và 8 thành tạo địa chất rất nghèo nước;

- Các tầng chứa nước theo thứ tự từ trên xuống dưới: tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3); Pleistocen giữa - trên (qp2-3); tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa (@qp3); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen giữa (n22); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (n12 ); tầng chứa nước lỗ hổng Miocen trên (n31); tầng chứa nước khe nứt Mesozoi - Paleozoi (ps-ms);

- Trong 8 tầng chứa nước nêu trên, có 5 tầng chứa nước lỗ hỗng: (qp2-3); (qp1); (n22 ); (n12 ); (n31) có khả năng khai thác với quy mô lớn. Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3) và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa và (ps-ms) (ở huyện Tân Châu) đáp ứng cho nhu cầu khai thác nhỏ lẻ đến quy mô vừa.

- Nước dưới đất trong các tầng chủ yếu là nước siêu nhạt, các chỉ tiêu hoá lý đáp ứng được tiêu chuẩn ăn uống; các chỉ tiêu đáng lưu ý nhất về chất lượng nước dưới đất phục vụ cho ăn uống là: pH, hàm lượng sắt và nhôm, hàm lượng Nitrat.

- Trữ lượng khai thác nước dưới đất tiềm năng của tỉnh: 5.099.887 m3/ngày. Trong đó trữ lượng tĩnh trọng lực là 3.387.334 m3/ngày; trữ lượng tĩnh đàn hồi 66.263 m3/ngày. Nguồn bổ cập từ nước mưa: 1.560.561 m3/ngày; nguồn bổ cập từ bên sườn: 11.585 m3/ngày; nguồn bổ cập từ hồ Dầu Tiếng: 74.144 m3/ngày.

- Hiện trạng mực nước và các nguồn nước hình thành trữ lượng được nghiên cứu và tính toán định lượng; đây là những thông tin hữu ít giúp cho việc nghiên cứu và khai thác tài nguyên này cho vùng nghiên cứu;

- Dựa trên các tiêu chí về tỷ lệ tăng dân số, lượng nước tiêu thụ trên đầu người, công nghiệp, thương mại, lượng thất thoát; cho năm 2010 và 2015 là 136.237 m3/ngày và

212.166 m3/ngày.

- Đến cuối năm 2010 ở hầu hết các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 20.791 m3/ngày. Đến năm 2015 thì tất cả các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 70.492 m3/ngày.

- Căn cứ theo hiện tại và quy hoạch các cụm và khu công nghiệp trên toàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tính toán được tổng nhu cầu nước cho 26 cụm và khu công nghiệp là 403.225 m3/ngày.

- Công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất: cập nhật số liệu thường xuyên bằng các số liệu từ mạng quan trắc và điều tra hiện trạng; tiến hành một số thí nghiệm để xác định chính xác các thông số của mô hình; đào tạo các chuyên gia ĐCTV (địa chất thủy văn) và mô hình.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 23/02/2009. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc thẩm định hồ sơ xin cấp phép khai thác nước dưới đất; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép thăm dò nước dưới đất; sử dụng tài nguyên nước.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa tángĐiều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa táng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hận Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 198,96 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

         MỤC TIÊU

-  Quy hoạch việc chôn cất hài cốt tập trung, không sử dụng đất thổ để xây dựng mồ mả, hướng đến tập quán hỏa táng, phù hợp với nền văn minh mới hợp vệ sinh.

-  Quy hoạch nghĩa địa nhằm mục đích đảm bảo tình hình sử dụng đất, đảm bảo vệ sinh nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo môi trường sinh thái nét đẹp mỹ quan đô thị.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

-  Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội.

-  Điều tra, khảo sát hiện trạng chôn cất, phân tích môi trường (đất nước).

-  Thống xử số liệu.

-  Xây dựng hình toán về tốc độ tăng dân số theo tỷ lệ chết.

-  Lập số hóa các loại bản đồ bằng phương pháp GIS.

-  Xây dựng bản đồ quy hoạch nghĩa trang trên phần mềm Mapinfo.

-  Tham quan đề xuất biện pháp hỏa táng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sở Khoa học Công nghệ Tây Ninh đã tiến hành điều tra với số lượng 7.772 phiếu về việc hỏa táng: chỉ 18,6% đồng ý; 5% đồng ý nếu như Nhà nước chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

-  Ý kiến của các đoàn thể tôn giáo đa số đồng ý với hình thức hỏa táng; do vậy với sự tác động của các tổ chức này, tâm về chôn cất của người dân dần dần sẽ thay đổi.

-   Phương pháp hỏa táng: phương pháp dùng nhiệt độ cao (khoảng 600- 10000C) đốt xác người cùng với quan tài các vật liệu tẩm liệm thành tro, xương người khi đó bị cháy thành các mảnh vụn. Một phần tro xương sau đó được cho vào hủ kín để thờ phụng hoặc đem rải xuống sông, hồ.

 

 

 

-  Công nghệ hỏa táng theo nhiên liệu đốt (củi, dầu, điện, gas) xử khói bằng phương pháp đốt bổ sung (đốt lại), gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu (buồng đốt cấp), nhiệt độ cháy được giữ 600 - 9000C, giai đoạn thứ hai (buồng đốt thứ cấp), nhiệt độ 900 - 1.1000C được kiểm soát để tạo ra các sản phẩm cháy hoàn toàn.

-  Thiết bị: phù hợp với đặc thù của tỉnh, đảm bảo tính công nghệ tiên tiến, an toàn bảo vệ môi trường; một số thiết bị chuyên dùng: điện ABB của Thụy Sĩ, gas Pyrox của Canada, hỏa táng Power - pak II của Mỹ.

Qua quá trình thu thập thông tin, dữ liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu hiện trạng nghĩa địa, nghĩa trang trên địa bàn tỉnh, đề tài đã đề xuất được hình hỏa táng xây dựng Trung tâm hỏa táng Tây Ninh trực thuộc Sở lao động, Thương binh hội tỉnh Tây Ninh với công nghệ đốt Power - Pak của Mỹ với nguyên liệu đốt gas. Đây một trung tâm hoạt động công ích thu, đóng góp cho hội về mặt nhân đạo, từ thiện bảo vệ môi trường.

Địa điểm của Trung tâm hỏa táng đáp ứng được nhu cầu của nhiều địa phương, rộng rãi, thoáng, yên tĩnh, trang nghiêm thuận tiện cho đi lại, bố cục kiến trúc hợp lý, tính dân tộc, phù hợp với đặc thù của tỉnh, sạch đẹp tạo ấn tượng tốt về một nơi an nghỉ cuối cùng cho người đã khuất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm của đề tài được chuyển giao cho Sở Lao động Thương Binh hội, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu ứng dụng trong xây dựng đề án về “Nghĩa trang xanh”, trong công tác quản của ngành. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sở khoa học để Sở Lao động Thương binh hội tham mưu UBND tỉnh phê duyệt dự án xây dựng công trình đài hỏa táng tại Trường Hòa, huyện a Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 7/2009, Công ty TNHH Fairy Park Việt Nam (thuộc tập đoàn Fairy Park, Malaysia) trụ sở tại 274, Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng “Sơn Trang Tiên Cảnh” tại ấp Trường Thọ, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh với số vốn đầu 20 triệu USD, tổng diện tích khu đất khoảng 75 ha giai đoạn 1 với diện tích khoảng 14 ha, dự kiến sẽ phục vụ khoảng 5.000 ngôi mộ an táng, trên 8.000 chỗ lưu trữ tro cốt hỏa táng, chưa kể phần mộ cải táng. Sơn Trang Tiên Cảnh được xây dựng theo mô hình Fairy Park tại Malaysia, có phong cảnh cây cỏ, suối nước, non bộ, các tượng thần, thánh của các tôn giáo, đội ngũ nhân viên chăm sóc mộ...

Từ tháng 8/2011, tập đoàn Fairy Park (Malaysia) đưa Sơn Trang Tiên Cảnh đi vào hoạt động. nơi chôn cất được xây dựng theo kiểu kiến trúc mới, hiện đại hợp phong thủy. Phong cách tiên tiến không nhang khói, phù hợp với chính sách bảo vệ môi trường; hộp đựng tro cốt được làm bằng nhôm, nhập khẩu từ Đài Loan, thiêu bằng diesel... Đây hạng mục công trình lớn nhất, hiện đại nhất của nước ngoài đầu vào lĩnh vực này

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Hội đồng đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Thi đua – Khen thưởng, các đơn vị có liên quan và các cá nhân có sáng kiến được công nhận chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
Danh sách chi tiết xem tại đây. Tải về

10/03/2021 2:00 CHĐã ban hànhTin
Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lão nông Lê Văn Dĩ trong vườn rau thơm xen rau rừng phủ lưới che.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tây Ninh lần thứ 10 năm 2016-2017 do Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) chủ trì phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Tuy số lượng có giảm so với Hội thi lần thứ 9, năm 2014-2015 (110 so với 163 giải pháp), nhưng điểm nổi bật là các mô hình/giải pháp đoạt giải thưởng đều thể hiện được tính mới mẻ, sáng tạo, đặc biệt là tính ứng dụng cao, có khả năng giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lao động sản xuất và công tác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành chụp ảnh lưu niệm trong đợt tham quan, khảo sát giải pháp “Máy trồng mì” của cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải.

Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông có 5 giải pháp dự thi. Trong những kỳ hội thi trước đây, số giải pháp dự thi ở lĩnh vực này không nhiều, người dự thi hầu hết là cán bộ thuộc Sở Thông tin - Truyền thông và ngành Giáo dục - Ðào tạo. Cả 2 giải pháp đoạt giải lần này đều là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Giải pháp “Ứng dụng ngôn ngữ lập trình C vào Kit arduino góp phần nâng cao năng lực hợp tác của sinh viên ngành CNTT” của nhóm giảng viên Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh (Trần Phong Vũ, Công Tôn Nữ Lương Thành, Ðặng Văn Tráng); tuy thiết bị Arduino không mới nhưng việc ứng dụng ngôn ngữ lập trình C là sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm “Thiết bị tưới thông minh dành cho hệ thống thuỷ canh ghép động-tĩnh”, tạo hứng thú học tập cho sinh viên và có được sản phẩm thực tế phục vụ giảng dạy.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Dàn bón phân định lượng của Phạm Văn Hùng (Tân Châu).

Lĩnh vực “Công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải” có 35 giải pháp dự thi và tất cả đều là giải pháp công nghiệp (không có xây dựng và giao thông vận tải). Hầu hết các giải pháp là cải tiến, sáng chế thiết bị phục vụ nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong sản xuất và đời sống; nhiều tác giả đoạt giải ở lĩnh vực này đã từng có giải cao ở những kỳ hội thi trước đây như: Phạm Văn Hùng (cơ sở cơ khí Tư Hùng ở Tân Châu), Trần Quốc Hải (cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải- Tân Châu), Trịnh Thành Nghiêm (Công ty cổ phần Cấp thoát nước Tây Ninh)…

Giải pháp “Sáng chế dụng cụ gắn máng che mưa trên cây cao su” của Trần Văn Long- công nhân Nông trường Cao su Tân Biên có chi phí chế tạo thấp, lại vận hành dễ dàng và hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong toàn ngành cao su. Còn giải pháp “Cải tiến xe vận chuyển mủ thành xe chữa cháy trên vườn cao su” của Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi có thể giải quyết được vấn đề phòng cháy chữa cháy (PCCC) tại chỗ của đơn vị, và có khả năng áp dụng rộng rãi trong các nông trường cao su cũng như các vườn cây lớn, các khu vực rừng tự nhiên và khu dân cư.

Trong khi đó, giải pháp “Máy trồng mì” và “Máy thu hoạch khoai mì” của Trần Quốc Hải đã hoàn chỉnh quy trình “cơ giới hoá cây mì” với hiệu quả cao khi thử nghiệm ở Tây Ninh, Bình Phước và Campuchia (máy đã được bán hơn 50 chiếc cho nông dân các tỉnh). Giải pháp “Máy trộn và sấy muối ớt” của Nguyễn Quốc Thái ở xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành lại là một sáng tạo có tính năng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu sản xuất đặc sản muối ớt tôm ở Tây Ninh.

Giải pháp “Dàn bón phân định lượng” của Phạm Văn Hùng (Tân Châu) đáp ứng nhu cầu bón phân cho những cây trồng cách khoảng (cây cao su non, cây ăn quả…) làm giảm thất thoát phân bón, tăng khả năng hấp thụ cho cây trồng (máy đã được bán ra thị trường hơn 30 chiếc).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài và một trong những chiếc xe PCCC từ sáng kiến của ông

 

ĩnh vực vật liệu, hoá chất, năng lượng có 5 giải pháp dự thi. “Xử lý sắt và mangan trong nước ngầm không sử dụng hoá chất” của nhóm tác giả Trịnh Thành Nghiêm, Nguyễn Lan Ðình, Nguyễn Văn Hùng thuộc Công ty cổ phần Cấp thoát nước tỉnh ứng dụng công nghệ của Công ty PERNAM cho 2 trạm cấp nước huyện Bến Cầu và Châu Thành, giúp công ty tiết kiệm được chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cũng như giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình xử lý và vận hành hệ thống với nguồn nước thô là nước ngầm; chất lượng nước sau khi xử lý và cung cấp bảo đảm đạt quy chuẩn nước sinh hoạt.

Nông lâm thuỷ sản, tài nguyên và môi trường là lĩnh vực tập trung nhiều giải pháp nhất (40) với hầu hết các tác giả là nông dân. “Nuôi trồng bon sai trong môi trường nước” là giải pháp dự thi của nhóm tác giả thuộc Hội Sinh vật cảnh Tây Ninh (gồm Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quốc Phương và Trần Hoài Ân) mở ra hướng mới cho người kinh doanh, nuôi trồng sinh vật cảnh, thúc đẩy sự phát triển ngành sinh vật cảnh Tây Ninh.

Còn giải pháp “Trồng rau thơm xen rau rừng phủ lưới che” của tác giả Lê Văn Dĩ- Chủ nhiệm Tổ hợp tác rau rừng VietGAP ấp Lộc Trát, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng đưa ra mô hình kết hợp trồng rau trong lưới che, hạn chế được sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất và chất lượng rau; đặc biệt là thuần dưỡng được rau rừng trên diện tích đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.

Mô hình “Nuôi dơi lấy phân cho hiệu quả kinh tế cao” của Phạm Kim Liên và Lê Thu Thuỷ ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu lại phổ biến quy trình nuôi dơi lấy phân để bán, kết hợp phục vụ sản xuất cây trồng trên diện tích đất nuôi dơi, mang đến hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long tạo tán cho cây- một khâu trong mô hình “Nuôi trồng bonsai trong môi trường nước”.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có 25 giải pháp, được tuyển chọn từ các sáng kiến của các trường trong tỉnh. Giải pháp “Xây dựng cấu trúc đề kiểm tra môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” của tác giả Tạ Xuân Thơ- giáo viên Trường THPT Tây Ninh giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, trong khi “Khảo sát truyện dân gian Tây Ninh” của tác giả Hà Thị Thới - giảng viên Trường CÐSP Tây Ninh, là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện dân gian- nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hội thi lần này, ban tổ chức đã xét chọn 10 giải pháp (trong số 18 giải pháp đoạt giải Nhì và giải Ba) đưa đi tham dự Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2016-2017 (chưa công bố kết quả).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Chị Phạm Kim Liên và mô hình “Nuôi dơi lấy phân” cho hiệu quả kinh tế cao.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật tỉnh Tây Ninh lần này tiếp tục khẳng định đây là nơi hội tụ, phát huy tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy phong trào quần chúng tiến công vào khoa học kỹ thuật. Ðối tượng tham gia khá đa dạng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Ðiều đáng tiếc là Hội thi phát động 6 lĩnh vực nhưng chỉ có 5 lĩnh vực có giải pháp dự thi, còn lại lĩnh vực y dược không có giải pháp nào.

Riêng 2 lĩnh vực: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và vật liệu, hoá chất, năng lượng còn ít giải pháp dự thi (mỗi lĩnh vực chỉ có 5). Và số lượng giải pháp tham gia Hội thi tổng cộng cũng chỉ có 110- chưa tương xứng với tiềm năng trong tỉnh. Còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm việc vận động cán bộ, công nhân tham gia Hội thi.

Hội thi lần này cũng không có giải pháp dự thi từ lực lượng đoàn viên thanh niên. Với ngành Y tế, tuy hằng năm đều có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở, nhưng lại không có giải pháp nào tham gia Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật.

Theo Báo Tây Ninh Online

05/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây NinhNghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Hoàng Đức Đạt Cơ quan chủ trì: Viện Sinh học Nhiệt đới Tp. HCM Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 293,255 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định đặc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi; quy trình kỹ thuật nhân giống và các giải pháp bảo tồn 2 nhóm động vật này đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái, tăng giá trị cảnh quan núi Bà Đen nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch sinh thái.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Công tác thực địa.

- Phân tích đặc điểm hình thái, định loại 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi.

- Nghiên cứu dịch tể học của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giá trị dinh dưỡng của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Thực nghiệm sinh sản nhân tạo và nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý 2 loài động vật này tại Núi Bà Đen Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đặc điểm sinh học hai loài Ốc núi (ốc nhọn - Cyclophorus annamiticus Moellendorff, 1874 và ốc bằng-Cyclophorus annamiticus H. Cross, 1867) ở núi Bà đen đều thuộc giống Cyclophorus.

+ Hai loài ốc núi có hình thái ngoài khác nhau, nhưng có cấu tạo hệ cơ quan giống nhau. Chúng là những loài ốc phân tính, tuy nhiên không phân biệt được con đực, con cái bằng hình thái ngoài của vỏ ốc; sự phân biệt dựa vào sự có mặt của cơ quan giao cấu ở con đực.

+ Thức ăn chủ yếu của hai loài ốc này là các loại lá cây (ăn các loại lá cây đã mục, không ăn lá cây xanh tươi) và mùn bã hữu cơ có trong đất. Trong các loại lá thử cho ăn, ốc ưa thích nhất lá cây thuộc họ dâu tằm (Moraceae), họ chuối (Musaceae), họ ráy (Araceae), họ bụp (Malvaceae).

+ Sinh sản của ốc núi: chưa thu được nhiều dẫn liệu liên quan đến quá trình sinh sản của hai loài ốc này; chưa phát hiện được nơi đẻ trứng, ốc non mới nở. Tuy nhiên đã phát hiện được ốc nhọn non rất nhỏ khoảng 3 tháng tuổi (đối chiếu ốc non nuôi thí nghiệm) tại các vườn chuối vào cuối mùa mưa. Như vậy, Ốc nhọn đẻ trứng vào nửa đầu của mùa mưa; cũng đã bắt gặp ốc bằng con nhưng kích thước lớn hơn (trọng lượng khoảng 1g) vào đầu mùa khô. Như vậy, Ốc bằng đẻ trứng vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Hai loài ốc núi sinh trưởng tương đối chậm. Trong nuôi thí nghiệm, ốc bằng con có trọng lượng trung bình ban đầu 1,01g/con sau 20 tháng nuôi đạt 8,6g/con; ốc nhọn từ khi mới nở có trọng lượng trung bình 0,018g/con, sau 19 tháng nuôi đạt 8,75g/con. Trọng lượng khai thác ốc nhọn trung bình 10,05 ± 0,33g/con; Trong lượng khai thác ốc bằng trung bình 9,96 ± 0,23g/con.

+ Hai loài ốc núi ở núi Bà Đen trưởng thành sinh dục vào năm thứ ba của đời sống; chúng giao phối trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10, tuy nhiên đẻ rộ từ nửa cuối tháng 6 đến tháng 7. Trứng ốc nhọn có dạng hình cầu, đường kính 4,5mm (mỗi ốc cái đẻ từ 6-14 trứng) vùi trong đất mùn, sau khoảng 01 tháng ốc con nở ra (trọng lượng bình quân 0,018g/con), ốc con sống trong lớp mặt của đất mùn, lá mục.

+ Loài Ốc bằng phân bố hẹp có thể là loài đặc hữu của núi Bà đen Tây Ninh. Nhân giống thành công loài Ốc nhọn, trong hai mùa sinh sản đã thu được 6.833 ốc con, trung bình trong một mùa sinh sản một ốc cái sinh sản được 15 ốc con.

+ Trong quá trình thí nghiệm nuôi 2 loài ốc núi cho thấy: loài ốc nhọn sinh sản rất tốt trong điều kiện nuôi thí nghiệm, có thể phát triển nuôi loài này nhằm giảm cường độ khai thác ốc ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học của núi Bà đen.

- Thằn lằn núi ở núi Bà đen Tây Ninh là Gekko ulikovskii Darevsky und Orlov, 1994 thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae), bộ có vảy (squamata), tên phổ thông: tắc kè hoa cân (tên địa phương: thằn lằn núi).

+ Thằn lằn núi là loài ăn tạp, có phổ thức ăn rộng gồm nhiều loài động vật và thực vật khác nhau; độ no của thằn lằn trong mùa khô lớn hơn mùa mưa, ở con cái lớn hơn con đực và con non; địch hại ngoài thiên nhiên của chúng là chồn, khỉ, chuột, rắn, kỳ đà, bìm bịp.

+ Mùa sinh sản của thằn lằn núi ngoài thiên nhiên kéo dài từ tháng 11 đến tháng 02 năm sau, mỗi lứa đẻ thường có hai trứng đính trên vách hay kẻ đá; thằn lằn núi không mang vi sinh vật gây bệnh cho người; tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây của chúng tương đối thấp.

+ Trong điều kiện nuôi thí nghiệm, thức ăn của thằn lằn gồm trái cây chín, côn trùng, cào cào non, sâu bọ; thằn lằn núi đẻ trứng chủ yếu đẻ trứng từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau, số trứng mỗi lứa là 02, nở dao động từ 61 - 85 ngày, trứng được đẻ trong kẻ đá và ống tre.

+ Tỷ lệ đẻ của thằn lằn núi là 22.5% ở mùa đẻ 2004 - 2005 và 62.2% ở mùa đẻ 2005 - 2006, tỷ lệ trứng nở đạt 50% và 67.3% ở 2 mùa đẻ; con mới nở có trọng lượng 1,08g/con, dài 36,1mm.

- Các dẫn liệu sinh học, dịch tể học, thành phần chất dinh dưỡng của Ốc núi và Thằn Lằn núi. Quy trình sinh sản nhân tạo, nhân giống Ốc núi giống 3 tháng tuổi trở lên (cho 2 loài). Quy trình sinh sản nhân tạo, Thằn lằn núi giống 3 tháng tuổi trở lên.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến Công ty Du lịch Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh làm tư liệu xây dựng quy hoạch phát triển ngành và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vịKhảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vị
Đồng chủ nhiệm đề tài: BS.CKI. Nguyễn Thị Thu và PGS.TS. Bùi Trung Cơ quan chủ trì: Sở Y tế tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 201 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá thực trạng tình hình xả thải chất ô nhiễm (nước thải và rác y tế) tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh.

- Xây dựng phương án và quy hoạch xử lý chất thải y tế (CTYT) cho từng đơn vị y tế cấp huyện, thị trấn và bệnh viện chuyên khoa của tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát thực trạng CTYT ở các đơn vị y tế trong tỉnh Tây Ninh.

- Xác lập hệ mô hình xử lý nước thải và lò đốt rác phù hợp.

- Xác lập phương án xử lý CTYT cho từng cơ sở y tế.

- Xây dựng quy hoạch lắp đặt hệ xử lý CTYT tại từng đơn vị.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Lần đầu tiên đã tiến hành khảo sát tại từng cơ sở, thu được các số liệu xác thực về nước thải, mức độ ô nhiễm trong nước thải và số lượng từng loại rác y tế xả ra trong ngày làm cơ sở để xác định qui mô để xử lý phù hợp. Việc khảo sát được thực hiện theo tiêu chuẩn khoa học và phù hợp với qui định của Nhà nước và Bộ Y tế về quản lý chất thải độc hại.

- Thực trạng tình hình xả thải chất ô nhiễm (nước thải và rác y tế) tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh.

+ Lượng chất thải y tế tại trung tâm y tế huyện Bến Cầu hiện nay ở mức trung bình thấp: lưu lượng nước thải bình quân thấp hơn 25 m3/ngày đêm (dao động trong khoảng 10 - 24 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm (dao động từ 3 - 16 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Châu Thành tương đối cao (dao động trong khoảng 56 -103 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 15 kg/ngày đêm (dao động từ 3 - 14,5 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Dương Minh Châu khá cao (dao động trong khoảng 40 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác thải y tế tương đối thấp (dao động từ 3 - 10 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Gò Dầu dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Hòa Thành hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác thải y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm (dao động từ 8 - 17,5 kg).

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm Phòng chống Lao hiện nay ở mức thấp: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 6 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 10 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Tân Biên hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải bình quân 28 m3/ngày đêm; lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Tân Châu hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 10 kg/ngày đêm và một lượng nhỏ các loại hóa chất.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế Thị xã Tây Ninh hiện nay ở mức tương đối thấp: lưu lượng nước thải thấp hơn 10 m3/ngày đêm; lượng rác y tế thấp hơn 4kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Trảng Bàng hiện nay tương đối cao: lưu lượng nước thải trung bình khoảng 50 m3/ngày đêm; lượng rác y tế khá cao 30 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền khá cao so với quy mô hoạt động của đơn vị: lưu lượng nước thải trung bình khoảng 74 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp.

- Nghiên cứu thiết kế mô hình lò đốt rác y tế công suất 25 kg/ngày, các mô hình hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày và 30 m3/ngày. Các mô hình này thích hợp để triển khai tại cơ sở y tế cấp huyện, thị của tỉnh Tây Ninh.

+ Lò đốt rác y tế công suất 25 kg/ngày: nhiệt độ buồng sơ cấp (300 - 9000C); nhiệt độ buồng thứ cấp (1.000 - 1.1000C); điện năng sử dụng (380V- 3 pha- 50 Hz); công suất lắp đặt (20 KW (30 A)); nước sử dụng (Qmax= 100 lít/h; P= 1 Kgf/cm2); trọng lượng tổng cộng 600kg; xử lý khí thải (tách bụi - khói Nox - oxy hoá các chất hữu cơ; cặn sĩ - xử lý axít); điều khiển tự động; mặt bằng sử dụng (dài 3,5m x rộng 3m x cao 3m);

+ Hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày: hoạt động theo công nghệ phân huỷ sinh học do Viện công nghệ hoá học nghiên cứu cải tiến; với quy trình xử lý theo sơ đồ (nước thải —> hố thu —> bể điều hoà —> xử lý vi sinh yếm khí có giá thể —> xử lý vi sinh hiếu khí —> lắng trong —> thu bùn —> khử trùng —> thải ra); hệ xử lý được kết cấu theo bể bê tông cốt thép hợp khối, bền vững lâu dài và đảm bảo vệ sinh môi trường, mỹ quan chung;

+ Hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày: Là công nghệ xử lý UFB của Viện Công nghệ hoá học; với quy trình công nghệ theo sơ đồ (nước thải —> hố thu —> bể điều hòa

—> xử lý vi sinh yếm khí có giá thể —> xử lý vi sinh hiếu khí —> lắng trong —> khử trùng—> thoát ra).

- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm và đề xuất phương án để xử lý CTYT tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh với lò đốt rác và các hệ xử lý nước thải có công suất phù hợp.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Trên cơ sở những số liệu thống kê và các giải pháp kỹ thuật giúp Sở Y tế Tây Ninh xây dựng định hướng quy hoạch xử lý CTYT cho từng đơn vị trực thuộc.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017
Ngày 21 tháng 11 năm 2016 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017 với 05 Đề tài thuộc 03 Lĩnh vực về: Khoa học Nông nghiệp; Khoa học kỹ thuật và Công nghệ; Khoa học Y, dược cụ thể:

1. Lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp:

- Đề tài: Ứng dụng công nghệ tạo viên không nhiệt để sản xuất phân bón NPK kết hợp silica từ tro trấu

2. Lĩnh vực Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ:

- Đề tài: Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài quý hiếm Gà lôi hông tía (LopPhura diardi) ở Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và đề xuất các giải pháp thích ứng

3. Lĩnh vực Khoa học Y, dược

- Đề tài: Thực trạng và giải pháp quản lý tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Mô hình bệnh tật ở các bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh

Quyết định phê duyệt danh mục:  Tải về 2969.PDF


Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

25/11/2016 4:00 CHĐã ban hành
Viết lịch sử Trường Chính trị tỉnh Tây NinhViết lịch sử Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Võ Hoàng Khải Cơ quan chủ trì: Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện là: 136,05 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

 

 

MỤC TIÊU

-     Ghi lại những chủ trương, sự chỉ đạo của tỉnh Đảng bộ Tây Ninh cũng như những thành tựu, các chặng đường phấn đấu trưởng thành và phát triển của trường trong các năm từ 1948 - 2008; ghi nhận những cống hiến của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên của trường Chính trị từ trước đến nay.

-     Ghi lại và tập hợp hình ảnh các vị lãnh đạo của trường qua các thời kỳ để lưu giữ làm tư liệu, tài liệu giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU        

-     Thu thập, tập hợp các tài liệu, sách, tạp chí viết về lịch sử đảng, lịch sử các ngành cơ quan, các cuốn biên niên lịch sử. Các tư liệu hình ảnh về phong trào cách mạng của địa phương, hình ảnh các hoạt động của Trường trong từng thời kỳ.

-     Khai thác các tài liệu đã sưu tầm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ghi nhận bối cảnh lịch sử đến những yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị của từng giai đoạn

-     Sự hình thành trường Đảng tỉnh Tây Ninh (1947 - 1954)

+ Trường Đảng tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 1954 - 1959: để nhanh chóng triển khai đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam, Tỉnh ủy Tây Ninh đã chỉ đạo khẩn trương thành lập “Đoàn cán bộ lưu huấn tỉnh Tây Ninh”, gồm nhiều cán bộ ở những cương vị công tác khác nhau tập hợp lại.

+ Từ tháng 3/1957 - 12/7/1957, Đoàn đã mở liên tiếp 4 lớp, thời gian học của mỗi lớp ít nhất là 7 ngày, nhiều nhất là 15 ngày, lớp ít nhất có 15 học viên, lớp nhiều nhất có 25 học viên; trong hai năm 1958 - 1959, có 02 lớp đáng chú ý (lớp chi ủy viên tháng 8/1958 và 10/1959), nội dung chủ yếu của lớp học này: đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam, năm bước công tác cách mạng, học tập lại điều lệ Đảng.

-     Trường Đảng tỉnh Tây Ninh thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1954 - 1975)

+ Giai đoạn chống “chiến tranh đặc biệt” từ năm 1960 đến giữa năm 1965: trường Đảng đã mở 03 lớp tại rừng Bời Lời và rừng Trảng Cỏ; hai lớp đầu do đồng chí Nguyễn Văn Tốt phụ trách, lớp thứ 03 mở trong khi hai tỉnh Tây Ninh và Thủ Dầu Một sát nhập; trong hai năm 1961 - 1962, trường đã mở hàng chục lớp Bí thư chi bộ tại Chót Lò Quyên, Vịnh Ông Cù và Thâm Thái, các lớp này mở trong 45 ngày, tài liệu học tập lúc bấy giờ in bột. Ngoài ra, nhà trường còn mở hai lớp tổ trưởng Đảng, mỗi lớp 15 ngày, riêng lớp sau có tới 130 học viên; trong hai năm 1963 - 1964, trường Đảng tiếp tục mở hàng chục lớp Bí thư chi bộ, mỗi lớp trên dưới 100 học viên; năm 1965, nhịp độ mở lớp sôi nổi hơn những năm trước, đã mở liên tiếp năm lớp, có lớp tới 120 học viên.

+ Giai đoạn chống “chiến tranh cục bộ” của Đế quốc Mỹ, từ giữa năm 1965-1968: để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà trường, Tỉnh ủy đưa đồng chí Nguyễn văn Vạn - phó Ban Tuyên huấn đến vừa làm cố vấn, vừa tham gia giảng bài; trường Đảng Tây Ninh vẫn duy trì được những lớp bồi dưỡng ngắn hạn cho các đồng chí trong Đảng ủy và chi ủy xã.

+ Giai đoạn chống “Việt Nam hóa chiến tranh” từ năm (1969 - 27/01/1973): trường Đảng được lệnh dời về Gò Bàu, gần văn phòng Ban Tuyên huấn; tại đây, trường mở liên tiếp nhiều lớp, mỗi lớp trên 70 học viên. Trong thời gian này, trường đã đào tạo bồi dưỡng 220 cán bộ cơ sở, tổ chức học tập hai bài “Lãnh đạo công tác vùng ven” và “phát động quần chúng ở các ấp chiến lược”.

+ Giai đoạn sau Hiệp định Pa-ri đến ngày 30/4/1975: để gấp rút đào tạo bồi dưỡng hàng loạt cán bộ cơ sở đủ sức đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, Tỉnh ủy đã trực tiếp gửi thư chiêu sinh cho trường Đảng. Thực hiện Nghị quyết của Trung ương đảng về: “khẩn trương xây dựng và chấn chỉnh tổ chức, cải tiến lề lối làm việc từ Trung ương tới tận cơ sở”, trường Đảng một mặt đã đi sâu nghiên cứu thực hiện trong nội bộ nhà trường, mặt khác đã bổ sung nội dung vào chương trình giảng dạy.

- Trường Đảng tỉnh Tây Ninh từ sau ngày 30-4-1975 đến 1994.

+ Tháng 9/1975, trường Đảng rời khỏi khu vực UBND tỉnh chuyển xuống trường kỹ thuật Công nghiệp (nay là trường Trung cấp Nghề Tây Ninh); tại đây, cơ sở vật chất lúc bấy giờ tương đối khang trang hơn, tiếp tục mở một số lớp tập huấn khác; về bộ máy của trường, ngoài ban lãnh đạo có 02 đồng chí còn có 03 phòng chức năng, chưa có các khoa, đội ngũ giáo viên còn thiếu nghiêm trọng.

+ Năm 1986 - 1994, Tỉnh ủy quyết định dời trường về khu an dưỡng của tỉnh tại xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành (địa điểm trường Chính trị Tây Ninh ngày nay); về tổ chức bộ máy và lãnh đạo đã thay đổi và được cơ cấu tương đối hoàn chỉnh; đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản chính quy hơn; nhân sự các khoa, phòng của trường được củng cố.

-     Trường chính trị tỉnh Tây Ninh (1994 - 2009).

+ Giai đoạn từ tháng 9/1994 - 1999: Theo Quyết định số 88-QĐ/TW và Quyết định số 57/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh có vị trí tương đương như một Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh; quyết định trên đã xác lập lại địa vị pháp lý cho trường, kiện toàn lại bộ máy tổ chức, nhân sự và công tác đào tạo, bồi dưỡng trong tình hình mới.

+ Giai đoạn từ năm 2000 - 2009: Giai đoạn này trường Chính trị tỉnh Tây Ninh có nhiều thuận lợi trong tổ chức và hoạt động chuyên môn. Ngoài Quyết định 54-QĐ/TW về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, Chính phủ cũng ban hành Quyết định 874/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước. Đầu năm 2009, thực hiện Quyết định số: 184-QĐ/TW ngày 03 tháng 9 năm 2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức bộ máy và tư cách pháp nhân của các trường Chính trị đều được chỉnh lại.

-     Với những phấn đấu và kết quả đạt được toàn diện trên các phương diện (đặc biệt là từ năm 1986 đến nay) đã được cấp trên ghi nhận: từ năm 2001 đến 2006 liên tục được nhận Bằng khen của UBND tỉnh, riêng năm 2003 trường được nhận Huân chương Lao động Hạng 3 của Chủ tịch nước. Tổ chức Đảng từ một chi bộ đã xây dựng thành Đảng bộ có 35 đảng viên, có 1/3 là đội ngũ trẻ, được đào tạo hoàn chỉnh.

-     Nhóm nghiên cứu đã hoàn thành việc biên soạn lịch sử chính trị Tây Ninh từ năm 1947 - 2009 (báo cáo tổng thuật các biên bản phỏng vấn nhân chứng, báo cáo tham luận ghi trong tập kỷ yếu hội thảo, báo cáo tổng hợp, bản thảo cuốn lịch sử Trường chính trị tỉnh Tây Ninh). Qua đó tái hiện được bức tranh tổng thể về hoạt động, vai trò của trường phục vụ 2 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2123/QĐ-UBND ngày 18/10/2011. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Trường Chính trị tỉnh làm tư liệu, tài liệu giảng dạy và giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống hỗ trợ thông tin liên lạc tích hợp GPS phục vụ công tác tuần tra biên giới tỉnh Tây NinhNghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống hỗ trợ thông tin liên lạc tích hợp GPS phục vụ công tác tuần tra biên giới tỉnh Tây Ninh
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài "Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống hỗ trợ thông tin liên lạc tích hợp GPS phục vụ công tác tuần tra biên giới tỉnh Tây Ninh" do Thạc sỹ Lê Ngọc Bảo - Viện Công nghệ thông tin (Bộ Quốc phòng - TP. HCM) làm chủ nhiệm.

HDKH.jpg

Toàn cảnh buổi họp

Tham dự phiên họp Hội đồng có ông Nguyễn Văn Hùng, PGĐ Sở KH&CN Tây Ninh - Chủ tịch Hội đồng; Đại tá Lê Quang Tân - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh - PCT Hội đồng; PGS.TS Dương Anh Đức -  Trường Đại học Công nghệ Thông tin TP.HCM và CN Nguyễn Huy Hưng  - Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tham gia phản biện, cùng với các thành viên khác đang công tác tại các đơn vị có liên quan.

Với mục tiêu nghiên cứu, thiết kế và xây dựng thành công hệ thống thiết bị liên lạc hỗ trợ công tác tuần tra biên giới: thao tác thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, bí mật - đảm bảo liên lạc thông tin thông suốt trong công tác phối hợp tác chiến,....

Đề tài được các thành viên Hội đồng xét duyệt đề cương thống nhất triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị cơ quan chủ trì cần hoàn chỉnh lại nội dung, hoàn thiện thuyết minh đề tài theo góp ý của Hội đồng, trình Chủ tịch Hội đồng và 02 Ủy viên phản biện xem xét việc trước khi gửi Sở KH&CN tiến hành các thủ tục theo quy định.

Phòng TT-SHTT

25/03/2015 4:00 CHĐã ban hành
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại tỉnh Tây NinhỨng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại tỉnh Tây Ninh
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh” do Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Thủy - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II chủ trì thực hiện.

Tom Cang.jpg

Toàn cảnh buổi họp

Đề tài dự kiến thực hiện trong 12 tháng, tại khu vực (Kênh Đông, Kênh Tây và sông Vàm Cỏ Đông) có vị trí địa lý và điều kiện sinh thái đáp ứng đủ điều kiện nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực. Mục tiêu áp dụng tiến bộ khoa học nuôi thương thẩm tôm càng xanh vào thực tiễn sản xuất, cải thiện chất lượng tôm thương phẩm bằng con giống toàn đực nhằm thúc đẩy nghề nuôi tôm càng xanh phát triển ở Tây Ninh. Góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống người dân vùng nuôi thủy sản tại địa phương.

Hội đồng xét duyệt đề cương thống nhất thông qua. Song, Hội đồng xét duyệt đề nghị cơ quan chủ trì, chủ nhiệm đề tài hoàn chỉnh lại các nội dung theo góp ý và gửi về Sở KH&CN để tiến hành thủ tục theo quy định./.

Phòng TT-SHTT

25/03/2015 3:00 CHĐã ban hành
Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn đến năm 2020Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn đến năm 2020
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Dương Thành Lam Cơ quan chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao KHCN - Trường Đại học Nông lâm TP.HCM Thời gian thực hiện: 2009 - 2010 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 155,79 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của các nhóm ngành nghề có ứng dụng Công nghệ Sinh học (CNSH) trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tại tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá những cơ hội, thách thức trong việc ứng dụng CNSH của tỉnh.

Xây dựng kế hoạch, giải pháp thực hiện, triển khai các đề tài, dự án phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra thực trạng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Xây dựng chiến lược ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020.

Đề xuất giải pháp thực hiện ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020 .

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh: tình hình nhân sự và cơ sở vật chất của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực CNSH ở tỉnh Tây Ninh hiện nay; những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực CNSH của tỉnh trong 5 năm; hiện trạng ứng dụng CNSH trong các doanh nghiệp sản xuất, các chế phẩm điều trị trong nông nghiệp; nhu cầu và thông tin sản phẩm CNSH trong tỉnh; khả năng cung cấp sản phẩm CNSH trong thời gian tới; khả năng thương mại hóa các sản phẩm CNSH; sơ lược một số thuận lợi khó khăn, cơ hội thách thức của các đơn vị nghiên cứu sản xuất - quản lý - phân phối - tiêu dùng.

+ Qua điều tra 479 phiếu trên các cơ quan ban ngành có liên quan ở 8 huyện khác nhau: cán bộ quản lý có chuyên môn liên quan đến ngành CNSH có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 62,32%; trung học chiếm 25,36%; có 2 cán bộ có trình độ thạc sỹ; còn lại 10,87% chưa qua đào tạo bậc đại học. Nên phát triển ngành CNSH tại Tây Ninh thì trình độ cán bộ quản lý sẽ rất han chế.

Hiện tại, nhân lực chuyên về nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng CNSH đang thiếu, đặc biệt là cán bộ phụ trách các lĩnh vực chăn nuôi thú y, giống cây trồng, xư lý chất thải, nước thải, phòng và chữa bệnh trong nông nghiệp;

+ Trang thiết bị, phòng thí nghiệm toàn tỉnh chỉ có 01 phòng thí nghiệm tại Chi cục Bảo vệ Thực vật Tây Ninh và 01 phòng thí nghiệm ở Trung tâm ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ để sản xuất một số sản phẩm nhằm cung ứng cho nhu cầu thị trường trong tỉnh;

+ Thiếu thốn, lạc hậu, chưa có kế hoạch đầu tư thiết bị cụ thể. Trong khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm công nghệ sinh học (CNSH) trên địa bàn hiện nay là rất lớn, đa số người dân đã có ý thức về việc sử dụng cac sản pham CNSH.

Nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của CNSH trong sự phat triển ở tỉnh Tây Ninh:

+ Trong Nông nghiệp, CNSH đã được ứng dụng chủ yếu trong trồng trọt và chăn nuôi, đạt năng suất chất lượng cao, giảm công lao động, giải quyết các vấn đề về môi trường, phòng và trị bệnh cho gia súc, lai tạo các giống mới;

+ Ngành CNSH đang là một lĩnh vực hấp dan đối với các cán bộ quản lý. Trong tổng số 138 người được hỏi, có 123 người cho rằng ngành hấp dẫn và rất hấp dan chiếm 89,47%;

Những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực CNSH trong tỉnh trong 5 năm trở lại đây:

+ Đạt được một số kết quả đáng khích lệ, góp phần gia tăng mức tăng trưởng bình quân hàng năm, nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi; tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi, chủng vi sinh vật, các chế phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp mới;

Chiến lược ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020.

+ CNSH nông nghiệp sẽ đóng vai trò chủ chốt trong việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa.

+ Tỉnh sẽ xây dựng các cơ sở vật chất trang bị cho việc nghiên cứu CNSH theo chiều sâu vào một số hướng mũi nhọn để giải quyết các vấn đề then chốt trong sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp thực hiện ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020:

+ Rà soát, đánh giá lại thực trạng nguồn nhân lực cũng như khả năng phát triển trong thời gian tới nhằm có chính sách quản lý phù hợp với thực tế; đào tạo chuyên ngành CNSH và tạo cơ chế tuyển dụng, thu hút nhân tài có trình độ;

+ Tổ chức hội thảo “ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” tại tỉnh Tây Ninh để tiếp tục thu nhận những ý kiến đóng góp từ các chuyên gia trong ngành trong và ngoài nước trước khi được Tỉnh Ủy, UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt kế hoạch hành động.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề án được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1581/QĐ-UBND ngày 14/8/2012. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở dữ liệu cho các đề tài, dự án phát triển tiếp theo trong lĩnh vực NN&PTNT của tỉnh; Đề án được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn ứng dụng trong công tác lập kế hoạch, chính sách và đưa các giải pháp định hướng phát triển CNSH một cách cụ thể phù hợp với điều kiện của tỉnh Tây Ninh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Đờn ca tài tử Nam Bộ ở Tây NinhSưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Đờn ca tài tử Nam Bộ ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Hồng Tăng Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Thông tin Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2009 Thời gian nghiệm thu: năm 2010 Kinh phí thực hiện: 197,64 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xác định quá trình hình thành và phát triển Đờn ca tài tử (ĐCTT) và những giá trị văn hóa của nó để có thêm những cứ liệu khoa học về lịch sử phát triển văn hóa xã hội ở Tây Ninh.

-     Đề xuất định hướng và những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật ĐCTT, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa địa phương theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Khái quát về Đờn ca tài tử Nam Bộ.

-     Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Đờn ca tài tử Nam bộ ở Tây Ninh.

-     Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ninh.

-     Định hướng quản lý và các giải pháp bảo tồn, phát huy Đờn ca tài tử ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, Tây Ninh vừa có những đặc điểm chung của khu vực, lại vừa có những nét riêng của địa phương.

-     Về phong trào và cách tổ chức: Tây Ninh là tỉnh duy trì tốt nhất phong trào ĐCTT với hệ thống các CLB, Đội, nhóm ĐCTT đông đảo và hoạt động thường xuyên ở cơ sở; được các trung tâm văn hóa của huyện, thị, xã, phường tập hợp, quản lý và tạo mọi điều kiện để hoạt động. Tuy nhiên, Tây Ninh chưa có được những chính sách, chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân ĐCTT tiêu biểu như một vài tỉnh trong khu vực.

+ Trên địa bàn 9 huyện thị, các trung tâm văn hóa huyện, thị, xã, phường đều thành lập câu lạc bộ (CLB) ĐCTT hoặc ĐCTT- Cải lương; có khoảng 65 CLB sinh hoạt tại các Trung tâm Văn hóa và 40 đội, nhóm sinh hoạt ngoài nhân dân.

+ ĐCTT Tây Ninh tồn tại dưới 2 dạng: sinh hoạt ngẫu nhiên, sinh hoạt tự giác; và có thể tự hào vì đã có những nhạc sư, những nghệ nhân, nghệ sĩ đã làm nên diện mạo ĐCTT Nam Bộ.

+ Tây Ninh hiện có hơn 200 nghệ nhân có chuyên môn cao và hàng ngàn người chơi ĐCTT thường xuyên, tập trung ở các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Hòa Thành, Thị xã Tây Ninh.

-     Về bài bản: ĐCTT có 20 bài bản tổ (3 Nam, 6 Bắc, 7 Lễ, 4 Oán) và hàng trăm bài biến thể; khi mới hình thành, nhóm ĐCTT miền Đông và miền Tây có một số khác biệt trong bài bản, hòa đàn.

+ Tây Ninh có Tòa Thánh Cao Đài đã chọn nhạc lễ Nam Bộ và ĐCTT làm nguồn “âm nhạc tôn giáo” của Cao Đài; với biểu diễn nghiêm túc, chính xác, chuẩn mực trong dàn nhạc và bài bản tài tử, đã tạo nên một phong cách chơi đặc trưng ở Tây Ninh

-     ĐCTT trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ninh: ĐCTT là loại hình nghệ thuật đặc trưng, món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ trong đó có Tây Ninh, gắn liền qua các giai đoạn lịch sử và có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (trong giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, hội nhập và phát triển).

-     Tuy nhiên về chất lượng (ca, đàn đúng phong cách tài tử không nhiều) nên cần phải tiếp tục kế thừa, bổ sung những cái mới, phong phú hơn, sinh động hơn.

-     Giải pháp của sự bảo tồn và phát huy phong trào ĐCTT Tây Ninh: vận động đổi mới trong phương thức hoạt động để thích nghi với văn hóa thời hội nhập và phát triển; khuyến khích phong tặng danh hiệu nghệ nhân, hoặc Kỷ niệm chương... vì sự nghiệp văn hóa quần chúng; tăng cường giáo dục âm nhạc truyền thống; đào tạo nâng cao chất lượng “truyền nghề” ĐCTT; đặc biệt Nhà nước còn định hướng, tạo ra môi trường pháp lý, trang bị cơ sở vật chất cho ĐCTT.

+ Tạo điều kiện, sân chơi cho hoạt động ĐCTT cơ sở, thuộc các bộ môn như: liên hoan ĐCTT - Cải lương, liên hoan Giọng hát hay - Tay đờn giỏi, liên hoan Nhạc lễ - Trò lễ, liên hoan các CLB - Đội nhóm ĐCTT; mở rộng đối tượng tham gia (khuyến khích lực lượng trẻ, tổ chức ở nhiều cấp); mời nhạc sư, nghệ sĩ ĐCTT nổi tiếng làm giám khảo để đánh giá, phân tích chất lượng, cung cấp thêm kiến thức cho các Đội.

+ Phổ biến các điệu thức căn bản của ĐCTT, giới thiệu các CLB, Đội, nhóm ĐCTT ở địa phương, giới thiệu những tay đàn giỏi, giọng ca độc đáo giao lưu nghệ nhân và bạn xem đài; phát huy tài năng cả về sáng tác lẫn biểu diễn.

+ Chế độ hỗ trợ đối với CLB.ĐCTT, đãi ngộ đối với nghệ nhân ĐCTT: thể hiện sự trân trọng đối với các nghệ nhân bằng cách phong tặng danh hiệu, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng”, hướng họ vào mục đích xã hội, trong đó việc “truyền nghề” cho thế hệ trẻ và tổ chức biểu diễn.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 29/3/2010;

-     Ngành Văn hóa Thông tin sử dụng kết quả nghiên cứu để làm căn cứ đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển đờn ca tài tử trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt là cung cấp tư liệu cho tủ sách địa chí của Thư viện Tây Ninh, Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam;

-     Chuyển giao kết quả cho ngành Du lịch đưa ĐCTT vào các chương trình du lịch văn hóa trong các tour du lịch ở Tây Ninh.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa MátĐiều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Ngọc Long và KS. Lý Văn Trợ Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 458,26 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao và các loài thực vật bậc thấp có ý nghĩa khoa học và kinh tế hiện diện trong khu Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát (VQG) cùng với tình trạng phân bố của chúng.

-     Xác định được các quần thể động vật quan trọng tại VQG, mức độ phổ biến và tình trạng nguy cấp, nơi phân bố của chúng.

-     Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên động, thực vật.

-     Lập bản đồ thảm thực vật.

-     Thu thập và bảo quản một số mẫu vật tiêu biểu cho các loài động vật: thú nhỏ, bò sát, cá, chim, côn trùng; thực vật bậc thấp, bậc cao và cây thuốc quan trọng tại VQG tạo cơ sở cần thiết cho các bước nghiên cứu quy hoạch và phát triển Vườn quốc gia sau này.

-     Đề xuất các biện pháp bảo tồn động, thực vật phù hợp.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật bậc cao, thấp.

-     Nghiên cứu về tài nguyên động vật trên cạn và thủy sinh vật.

-     Nghiên cứu, mô tả các vùng sinh thái cảnh quan tiêu biểu, đánh giá tài nguyên về tiềm năng du lịch sinh thái.

-     Xác định vùng phân bố, tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp.

-     Phân vùng chức năng.

-     Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội và môi trường vùng VQG.

-     Ứng dụng công nghệ xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng ngân hàng dữ liệu và hoàn chỉnh các loại sơ đồ bản đồ tỷ lệ 1/25.000.

-     Xác định tác động, mối liên quan giữa khu bảo tồn nghiêm ngặt (vùng lõi) với khu hệ đệm, đề xuất mô hình thích hợp phát triển khu đệm theo hướng đáp ứng mục tiêu bảo tồn khu bảo vệ nghiêm ngặt và các khu bảo vệ chuyên biệt.

-     Phát thảo hoàn chỉnh một số đề án bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư trong nước và quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Đề tài đã tạo ra được bộ tiêu bản động vật, côn trùng và thực vật; Bản đồ hệ thống dữ liệu thông tin địa lý (GIS).

-     Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát có đặc tính ngập nước cục bộ là một khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng thềm bậc cao Đông Nam bộ và đồng bằng thấp trũng lưu vực sông Mê Kông; đất phù sa cổ chiếm phần lớn diện tích của Vườn có thành phần cơ giới đất cát pha đến đất thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém.

-     Nguyên nhân không giữ được nước của đất rừng trong mùa khô mà sự bốc hơi nước quá chênh lệch giữa hai mùa, chỉ có những loài nào có cấu tạo thích nghi được trở nên tồn tại và phát triển (giải thích tại sao rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát cùng tồn tại kiểu rừng nhiệt đới gió mùa và kiểu rừng thưa rụng lá).

-     Hệ thực vật rừng VQG đã tổng kết được khoảng 700 loài với đại diện của 5 ngành thực vật, 60 bộ, 116 họ và 396 chi. Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) là nơi tập trung của nhiều loài thực vật nhất (chiếm 97.1%/tổng số loài thực vật).

-     Dựa vào điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý và khí hậu, thành phần cơ giới của đất, độ ẩm và tốc độ bay hơi nước, rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát đã tồn tại các kiểu thảm rừng khác nhau đan xen nhau theo thể khảm.

-     Có 6 kiểu rừng tiêu biểu cho VQG: kiểu rừng đất ngập nước theo mùa, kiểu rừng thưa thứ sinh, khô, nhiệt đới gió mùa, thưa rụng lá, rừng nguyên sinh. Ở các kiểu rừng này là nơi sinh sống của nhiều loài khác nhau, liên quan đến sự đa dạng sinh vật.

-     Tài nguyên cây thuốc của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát khá phong phú và đa dạng không chỉ về thành phần loài (179 loài) mà cả về công dụng. Một số loài cây thuốc sau đây rất được ưa chuộng và khai thác nhiều: đậu xương, sưng đừng, dây linh, dây nắp ấm, sám lộc, huyết rồng máu, hoàng đằng, lạc tiên, bồ húc, mướp khai.

-     Đã ghi nhận được 149 loài Chim thuộc 15 bộ và 40 họ (có 3 loài quí hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam: Gà lôi hông tía Laphura diardi, Gà đẫy Java Leptotilos javanicus, Hạc cổ trắng Ciconia episcopus).

-     Nhóm ếch nhái gồm 23 loài thuộc 2 bộ, 6 họ và 15 giống (bằng 13,2% loài ếch nhái so với cả nước).

-     Bò sát gồm 56 loài (15 họ và 40 giống) thuộc 2 bộ, trong đó có 18 loài bò sát quí hiếm.

-     Khu hệ cá VQG mang tính đặc trưng của vùng trung lưu và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ, 10 bộ (77/88 loài cá có giá trị kinh tế , 5/88 loài cá có tên trong sách đỏ Việt Nam).

-     Ghi nhận được 29 loài thú của 7 bộ: bộ ăn sâu bọ, bộ dơi, bộ linh trưởng, bộ móng guốc chẵn, bộ ăn thịt, bộ gặm nhấm, bộ thỏ.

-     Hệ Côn trùng ghi nhận được 128 taxa côn trùng thuộc 9 bộ.

-     Những loài thú của Vườn Quốc Gia Lò Gò- Xa Mát đang bị đe dọa nghiêm trọng vì tác động của con người và môi trường phát triển ngày càng xấu; một số loài rất có giá trị nhưng lại bị xếp vào dạng nguy cấp: Vooc Chà vá chân đen, Vooc Bạc, Khỉ đuôi lợn, Culi nhỏ, Sóc bay đen trắng, Dơi chó tai ngắn; chăn thả gia súc trâu bò của người đồng bào Khmer vùng biên giới, nguy cơ cháy rừng thường ngày vào mùa khô, đánh bắt cá, bẫy gà rừng và thú nhỏ.

-     Giải pháp bảo tồn và phát triển của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát: can thiệp bằng lực bảo vệ rừng; xây dựng chương trình giáo dục môi trường phối hợp với trường học trên địa bàn VQG; tiếp tục khảo sát, triển khai việc nghiên cứu thêm các đối tượng mới làm đa dạng tài nguyên sinh học ở VQG.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2926/QĐ-UBND ngày 17/12/2007. Kết quả đề tài được ứng dụng trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái VQG và Dự án đầu tư VQG giai đoạn 2011 - 2020; Một số đề án bảo tồn Đa dạng sinh học đối với: rừng thuần loại cây Sao dầu; các nhóm tài nguyên cây thuốc, các nhóm thú, chim và bò sát quý hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa.

-     Cung cấp tư liệu cho cơ quan báo chí, các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường đại học.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Thị Thu Hiền Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: năm 2007 Kinh phí thực hiện: 311,066 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh. Phân tích những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân.

Đề ra biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu, phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khoa học về xây dựng tổ chức cơ sở đảng nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở trong toàn tỉnh đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới hiện nay.

-  Làm rõ tính cấp bách, cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân và xác định phương hướng, đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên của tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tính đến 30/9/2006, toàn tỉnh có 599 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 434 chi bộ cơ sở và 165 đảng bộ cơ sở, với 2 đảng bộ bộ phận, 1.450 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; với tổng số đảng viên là 20.561 đảng viên, chiếm tỉ lệ 1,91% so dân số trong tỉnh, trong đó đảng viên có tôn giáo là 1.430 người, chiếm 9,95% tổng số đảng viên toàn tỉnh, đảng viên là dân tộc ít người: 84 người, chiếm 0,41% tổng số đảng viên toàn tỉnh.

+ Kết quả khảo sát điều tra tình hình thực tế ở 596 tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh: hầu hết các tổ chức cơ sở đảng sau mỗi lần đại hội Đảng đều rà soát, bổ sung và xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy và của từng cá nhân Bí thư, Phó Bí thư và ủy viên cấp ủy

+ Năm 2003 có 503/558 (90,41%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 184/503 (36,58%) và 1088/1.197 (90,89%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2004 có 493/563 (87,57%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 94/493 (19,06%) và 1.173/1.285 (91,28%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2005, có 522/577 (90,47%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 146/522 (27,96%) và 1.269/1.365 (92,96%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh. So với năm 2003, cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng 0.32%.

+ Mặt yếu kém: một số cấp ủy tuy có xây dựng quy chế nhưng trong quá trình thực hiện không theo quy chế làm việc; lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cấp ủy chưa thật sự đổi mới, nội dung còn chung chung, hiệu quả không cao, việc phê bình và tự phê bình còn yếu.

-  Chất lượng đội ngũ đảng viên tăng qua các năm: năm 2001(15.878 đảng viên); 2002 (16.929 đảng viên); 2003 (17.909 đảng viên); 2004 (18.939 đảng viên); 2005 (19.840 đảng viên); 2006 (20.561 đảng viên). Tăng bình quân mỗi năm là 5,02%.

+ Các cấp ủy tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đảng viên gắn với việc xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, quản lý, phân công cụ thể cho từng đảng viên được thực hiện tốt.

+ Mặt hạn chế: Một bộ phận đảng viên còn thụ động, tinh thần đấu tranh xây dựng chưa cao, còn thờ ơ thiếu trách nhiệm, chưa gương mẫu trong nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ năng lực. Năm 2005, khi đánh giá chất lượng đảng viên, có 352/5.542 đảng viên đủ tư cách nhưng có mặt hạn chế chiếm 6,35%, đảng viên vi phạm tư cách chiếm 0,9% (167/18.456 đảng viên).

-  Nguyên nhân mặt làm được: Đảng đề ra nghị quyết về đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các cấp ủy Đảng cấp trên cơ sở đề ra hướng dẫn các tiêu chuẩn xây dựng chi, đảng bộ và cụ thể thành biểu điểm thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ chủ chốt đã xác định đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình và của tổ chức đảng; Trung ương ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định đúng đắn.

-  Nguyên nhân của mặt yếu kém: một số cấp ủy các cấp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng ở cơ sở, chưa chỉ đạo chặt chẽ việc đánh giá đúng chất lượng; một số cấp ủy chưa đổi mới cách thức chỉ đạo đối với cơ sở, hội họp nhiều, chất lượng hội nghị không cao, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức cơ sở đảng; công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật của một số tổ chức đảng chưa nghiêm, chưa có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết.

-  Đề án đã làm rõ được mục tiêu và nhiệm vụ cần nghiên cứu, lý giải tính cấp bách phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh Tây Ninh trước nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-  Đề án nêu lên một số giải pháp góp phần vào sự lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn tỉnh, nhằm phấn đấu thực hiện hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 24/8/2007. Kết quả đề án làm cơ sở cho Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong tỉnh Tây Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vữngNghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vững
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Phát hiện, đánh giá quá trình thoái hóa đất nông nghiệp và đất đô thị (do xói mòn, bạc màu, mất hữu cơ và ô nhiễm). Đề xuất biện pháp ngăn chặn, sử dụng đất hợp lý, bền vững, nâng cao năng suất cây trồng và quyền lợi của người dân nông thôn và vùng ven đô.

Tạo hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ, giúp quản lý, chỉ đạo nhanh, cập nhật và hữu hiệu tài nguyên đất của tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát và thu thập, biên hội tài liệu về hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Biên hội số liệu, lập tiền dữ liệu về tài nguyên môi trường sinh thái đất Tây Ninh.

Điều tra khảo sát quá trình xói mòn đất dốc Tây Ninh trên nhiều loai đất và nhiều độ dốc khác nhau.

Điều tra và khảo sát quá trình bạc màu hóa đất trong hệ sinh thái cây khoai mì, mía, đậu phộng, lúa, vườn cây ăn trái Tây Ninh.

Điều tra và khảo sát quá trình mất chất hữu cơ ở các vùng đất thung lũng ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh rạch, các bưng trũng cục bộ, xung quanh hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá suy thoái đất trên từng vùng sinh thái nông, lâm nghiệp.

Điều tra tập quán, kinh nghiệm sản xuất, vận dụng, kết hợp kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sử dụng đất tối ưu.

Xác định mức độ suy thoái môi trường sinh thái và suy giảm tài nguyên đất bằng, điều tra năng suất, chất lượng cây trồng theo thời gian.

Xác định mức độ nhiễm đất do chất thải đô thị và công nghiệp vùng ngoại thành, vùng xung quanh các khu công nghiệp tỷ lệ bản đồ 1/50.000.

Thiết lập chuỗi số liệu tài nguyên môi trường để diễn tả tốc độ, chiều hướng suy thoái.

Thành lập các bản đồ suy thoái đất.

Phân vùng suy thoái tổng hợp toàn tỉnh trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

Xây dựng phương án khảo nghiệm sử dụng đất tối ưu trên máy tính.

Xây dựng và thử nghiệm phương pháp pilot xói mòn, bạc màu và mất chất hữu cơ tại một số điểm “nóng”.

Đánh giá rủi ro môi trường đất (do ô nhiễm, mất dưỡng chất, sụt lỡ đất, nứt đất).

Xây dựng phương án khảo nghiệm nhanh bằng phương pháp sử dụng đất tối ưu trên thực địa theo từng hệ sinh thái đất, trên cơ sở bài toán kinh tế sinh thái nông nghiệp.

Đề xuất các thông số chỉ thị cho phát triển bền vững hệ sinh thái môi trường đất nông nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài đã điều tra, nghiên cứu xây dựng thành lập bản đồ hiện trạng nhằm đánh giá mức độ suy thoái đất, đề xuất một số vấn đề phục vụ cho việc sử dụng bền vững tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau: Vấn đề xói mòn đất; bạc màu hoa đất; mất chất hữu cơ; chất thải đô thị và công nghiệp ảnh hưởng lên môi trường đất và đề xuất một số kiến nghị cần thực hiện.

+ Mức độ thoái hóa đất được thể hiện ở một số vấn đề: xói mòn đất, bạc màu hóa đất, mất chất hữu cơ, chất thải đô thị và công nghiệp;

+ Quá trình xói mòn diễn ra trên tỉnh Tây Ninh hầu như thấp so với các khu vực khác trong vùng Đông Nam Bộ. Nếu đi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình có xu hướng thấp dần, nên cường độ xói mòn ít dần. Đối với khu vực Núi Bà Đen, địa hình cao, độ dốc lớn, rất dễ xãy ra xói mòn;

+ Tài nguyên đất Tây Ninh phần lớn là nhóm đất xám (chiếm tới 85,65% tổng diện tích đất tự nhiên), nhóm đất này nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ màu kém, hàm lượng mùn, vi sinh vật trong đất thấp. Điều này gây bất lợi lớn đối với cây trồng;

+ Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, ba nhóm đất tập trung khai thác cho sản xuất đất nông nghiệp là: xám - phèn - phù sa.

Một số khu vực có biểu hiện của quá trình bạc màu như: xã Mỏ Công, Trà Vong, Thạnh Bình, Tân Bình (huyện Tân Biên), Thạnh Đông, Tân Hà, Tân Thành, Tân Hòa (huyện Tân Châu), Long Khánh, Long Phước, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Minh, Phước Ninh, Bến Củi (huyện Dương Minh Châu), Ninh Sơn (thị xã Tây Ninh), Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Trường Đông (huyện Hòa Thành).

Hàm lượng nitơ tổng số trong đất ở Tây Ninh là rất thấp cả vào mùa mưa lẫn mùa khô; ở tầng nông, mùa mưa chỉ từ 0,0011- 0,0153% và mùa nắng từ 0,0001- 0,002%, độ phì nhiêu tiềm tàng của đất kém.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất. Đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, độc tính cao, khó phân hủy sinh học, tích lũy trong đất với thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

Biện pháp chống xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác: lĩnh vực nông nghiệp: chọn thời vụ thích hợp, bón phân, phủ đất; lâm nghiệp: trồng rừng trên đồi núi và dọc ven hồ Dầu Tiếng, theo hệ thống kênh rạch Tây Ninh; hóa học kết hợp với sinh học: dùng chất liên kết màng và cây cỏ che phủ mặt đất quanh năm;

+ Thực hiện công tác quy hoạch đưa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra khỏi khu dân cư. Xử phạt nghiêm khắc các cơ sở sản xuất, đơn vị gây ô nhiễm, nhằm ngăn ngừa lây lan chất ô nhiễm từ các hoạt động của đô thị và khu công nghiệp;

+ Duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất; luân xen canh cây hoa màu; làm bờ thửa cho nhóm đất xám trên phù sa cổ; cải tạo nhóm đất phèn; đẩy mạnh công tác xã hội, khuyến nông, sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng.

Các phần mềm cơ sở dữ liệu dễ sử dụng và là công cụ phục vụ quản lý; hệ thống các bản đồ tỷ lệ 1/50.000 về tiềm năng xói mòn, hiện trạng đất bạc màu, hiện trạng mất hữu cơ, chất lượng môi trường đất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu đã đóng gop vào cơ sở dữ liệu về đất ở Tây Ninh phục vụ các nghiên cứu có liên quan như: đánh giá các quá trình suy thoái tài nguyên môi trường đất nông nghiệp; định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, khảo sát sự phân bố côn trùng trung gian gây bệnh sốt xuất huyết ở Tây NinhĐiều tra, khảo sát sự phân bố côn trùng trung gian gây bệnh sốt xuất huyết ở Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: BS. Huỳnh Văn Hùng và BS. Trần Khánh Tiên Cơ quan chủ trì: Trung tâm Y tế Dự phòng Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 131,7 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá sự phân bố của lăng quăng và muỗi trung gian truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại các xã/phường đại diện cho các vùng dân cư trong tỉnh Tây Ninh.

- Đề xuất các biện pháp diệt lăng quăng, phòng chống muỗi hữu hiệu, góp phần phòng chống dịch SXHD tại địa phương.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Tập huấn, điều tra theo hình thức cuốn chiếu cho từng huyện/ thị để thu thập các số liệu về lăng quăng và muỗi truyền bệnh SXHD.

- Dựa vào kết quả điều tra xác định được các xã, phường có nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết cao/thấp và các vùng có khả năng gây dịch. Từ đó đưa ra các biện pháp phòng chóng tích cực.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Ae. aegypti đã được xác định là véc-tơ chính truyền bệnh SXHD và đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu từ rất sớm về sinh lý sinh thái và vai trò truyền bệnh của chúng.

- Ae. aegypti là loài muỗi sống trong nhà, gần người, sự sinh sản và phát triển của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu. Muỗi thường phát triển mạnh vào mùa mưa (tháng 5 - 10), cao điểm thường vào tháng 6.

- Ở nhiệt độ 20oC, độ ẩm 85%, chu kỳ phát triển của Ae. aegypti từ trứng đến muỗi trưởng thành từ 10 - 15 ngày, nhiệt độ thấp hơn thì chu kỳ phát triển kéo dài hơn. Nhiệt độ cực thuận là 25oC - 30oC. Tuổi thọ của muỗi phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và các điều kiện khác của môi trường.

- Bảng số liệu đánh giá mật độ, phân loại muỗi, lăng quăng ở các xã đại diện.

+ Kết quả cho thấy trong 2.519 mẫu muỗi trưởng thành thu thập được, có 145 mẫu Ae. aegypti, chiếm tỷ lệ 5,76%. Không thu thập được muỗi trưởng thành Ae. albopictus. Muỗi trưởng thành Culex quinquefasciatus chiếm đa số (89,84%) mẫu thu thập. Ngoài ra cũng thu thập được các loài muỗi khác (4,4%).

- Trong 82.650 mẫu lăng quăng thu thập được, có 62.573 mẫu Ae. aegypti, chiếm tỷ lệ 75,71%; 19.341 mẫu Ae. albopictus, chiếm tỷ lệ 23,4%. Ngoài ra còn thu thập được lăng quăng Cx. quinquefasciatus với tỷ lệ thấp (0,89%).

- Ae. aegypti hiện diện ở hầu hết 27 điểm khảo sát. Trong đó, nơi có mật độ muỗi cao nhất là 0,53 Ae. aegypti cái/nhà (xã Trường Đông huyện Hòa Thành). Nơi có mật độ thấp nhất (#0) là xã Thạnh Tân và xã Bình Minh thị xã Tây Ninh. Nhìn chung, mật độ Ae. aegypti tại phần lớn các điểm khảo sát thấp hơn 0,2.

- Một số điểm khảo sát có mật độ Ae. aegypti cao hơn, từ 0,2 đến < 0,6 là: phường 2 thị xã Tây Ninh, thị trấn huyện Dương Minh Châu, thị trấn huyện Hòa Thành, xã Trường Đông huyện Hòa Thành, thị trấn huyện Gò Dầu và xã Cẩm Giang huyện Gò Dầu. Các điểm này (ngoại trừ thị trấn huyện Dương Minh Châu) tạo thành 1 vùng có mật độ muỗi Ae. aegypti cao, nằm trên hoặc trải dọc theo quốc lộ 22B từ hướng thị trấn huyện Gò Dầu đi lên trung tâm tỉnh.

- Báo cáo phân tích, đánh giá khả năng mắc bệnh SXHD ở từng vùng.

+ Loại ổ chứa lăng quăng Ae. aegypti chính tại hầu hết các điểm là vật chứa nước ăn (lu, khạp, hồ, phuy) với tỷ lệ thấp nhất là 33,44% (thị trấn huyện Dương Minh Châu) và cao nhất là 83,93% (thị trấn huyện Tân Châu). Trong đó có 6 xã có tỷ lệ vật chứa nước ăn thấp hơn 50%, 19 xã có tỷ lệ từ 50% đến thấp hơn 80% và 2 xã có tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 80%.

+ Kế đến là các đồ vật phế thải (chai lọ, lon, gáo dừa, lốp xe cũ, lu khạp bể...) xung quanh nhà, và chén nước chống kiến. Đáng lưu ý là đồ vật phế thải chiếm tỷ lệ khá cao tại xã Tân Đông huyện Tân Châu (37,98%) và xã Suối Đá huyện Dương Minh Châu (33,51%); trong khi đó chén nước chống kiến có tỷ lệ cao nhất tại thị trấn Dương Minh Châu (32,35%).

+ Tỷ lệ mắc SXHD/1.000 dân vào thời điểm khảo sát (tháng 9/2004) khác nhau tùy theo từng địa phương trong tỉnh, từ 0 đến 1,99. Trong số đó, nổi bật các địa phương có tỷ lệ mắc cao như: phường 2 thị xã Tây Ninh (0,79), thị trấn huyện Dương Minh Châu (0,93), xã Thành Long huyện Châu Thành (0,99), thị trấn huyện Hòa Thành (1,21), xã Trường Đông huyện Hòa Thành (1,41), và thị trấn huyện Châu Thành (1,99). Các địa phương này cũng là những nơi có tỷ lệ mắc SXHD/1.000 dân cả năm 2004 cao trong tỉnh Tây Ninh.

+ Một số điểm khảo sát có mật độ muỗi cao thì tỷ lệ mắc SXHD/1.000 dân trong tháng cũng cao như: phường 2 thị xã Tây Ninh, thị trấn huyện Hòa Thành, xã Trường Đông huyện Hòa Thành, thị trấn huyện Dương Minh Châu. Tuy nhiên, cũng có một số điểm có mật độ muỗi cao nhưng tỷ lệ mắc SXHD/1.000 dân trong tháng thấp (xã Cẩm Giang huyện Gò Dầu, thị trấn huyện Gò Dầu) hoặc ngược lại một số điểm có tỷ lệ mắc SXHD/1.000 dân trong tháng cao, nhưng mật độ muỗi lại thấp như thị trấn huyện Châu Thành, xã Thành Long huyện Châu Thành.

+ Ae. aegypti hiện diện ở hầu hết các xã khảo sát. Tập trung chủ yếu ở phường 2 TXTN, xã Trường Đông huyện Hòa Thành, thị trấn Hòa Thành, thị trấn Dương Minh Châu, thị trấn Gò Dầu, xã Cẩm Giang huyện Gò Dầu.

- Dự báo những xã có khả năng gây dịch SXHD cho năm sau; những xã có nguy cơ cao mắc bệnh SXHD.

+ Những xã có sự tương quan chặt chẽ giữa mật độ muỗi cao và tỷ lệ SXHD cao (phường 2 thị xã, thị trấn Hòa Thành, xã Trường Đông huyện Hòa Thành, thị trấn Dương Minh Châu) có khả năng xảy ra SXHD trong những năm tới nếu chúng ta không có những biện pháp kiểm soát Ae. Aegypti.

+ Những xã có mật độ muỗi thấp và tỷ lệ SXHD thấp (xã Thạnh Tân, xã Bình Minh thị xã Tây Ninh, thị trấn Tân Châu, xã Tân Đông huyện Tân Châu...) nguy cơ xảy ra dịch SXHD thấp, chỉ cần đầu tư hạn chế đối với những xã này.

+ Số xã còn lại (thị trấn Gò Dầu, xã Cẩm Giang huyện Gò Dầu, thị trấn Châu Thành, xã Thành Long huyện Châu Thành) không có sự liên quan rõ nét giữa mật độ muỗi và tỷ lệ SXHD.

- Đề xuất giải pháp phòng bệnh SXHD.

+ Diệt muỗi bằng cách (dùng nhang trừ muỗi, thuốc xịt muỗi); diệt lăng quăng bằng cách: dọn dẹp vệ sinh quanh nhà, xúc rửa các vật chứa nước;

+ Ngăn muỗi chích bằng cách: ngủ mùng kể cả ban ngày, dùng kem chống muỗi chích; ngăn chặn những vùng có nguy cơ gây dịch bằng cách mở chiến dịch diệt lăng quăng;

+ Tuyên truyền kiến thức về bệnh sốt xuất huyết cho các hộ gia đình trên đài phát thanh, truyền hình, phát tờ rơi, áp - phích, làm phiếu cam đoan gia đình không có lăng quăng.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 147/QĐ-UBND ngày 05/7/2006. TTYT Dự phòng Tây Ninh đã triển khai ứng dụng kết quả của đề tài cho 9 huyện, thị về một số nội dung: ổ chứa chủ yếu của lăng quăng; loài côn trùng trung gian truyền bệnh SXH chính; tương quan giữa mật độ muỗi-tỷ lệ SXH.

- Phổ biến một số biện pháp phòng SXH được đưa vào áp dụng trong công tác phòng chống SXH:

+ Ổ chứa là vật chứa nước ăn: thay nước thường xuyên, làm nắp đậy, thả cá ăn lăng quăng.

+ Ổ chứa là vật phế thải, chân chén: vận động tổng vệ sinh, bỏ muối , thay nước.

+ Đề xuất Sở Y tế ưu tiên kinh phí cho các xã có khả năng xảy ra dịch SXH vào các năm 2007, 2008.

- Giải pháp phòng bệnh SXHD được ứng dụng diệt lăng quăng thường xuyên hàng tháng tại 10 xã điểm; tổ chức các chiến dịch vệ sinh môi trường ở những xã có nguy cơ bùng phát dịch nhằm loại bỏ các ổ chứa của lăng quăng gây bệnh SXHD;

- Kết hợp triển khai kết quả trong các cuộc hợp giao ban hàng tháng, cung cấp tài liệu liên quan cho những thành viên quan tâm đến đề tài này.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừĐiều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừ
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Dương Quốc Việt Cơ quan chủ trì: Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 171,435 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá tình hình nhiễm giun sán và những yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ nhiễm trên đàn bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh. Phát hiện các loài giun sán thường gây bệnh, các lứa tuổi của bò có tỷ lệ mắc bệnh cao ở từng vùng khác nhau; hiệu quả một số loại thuốc thường sử dụng điều trị giun sán ở bò.

Đề xuất một số biện pháp phòng và trị bệnh giun sán trên đàn bò nhằm tăng năng suất và đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi bò.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra tình hình nhiễm một số giun sán trên đàn bò nuôi và hạ thịt tại 9 huyện, thị tỉnh Tây Ninh.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm theo vùng địa lý, mật độ chăn nuôi, nhóm tuổi, giống, điều kiện chuồng trại, biện pháp chăm sóc quản lý, trình độ người chăn nuôi theo tháng mùa trong năm.

Thu thập mẫu (mẫu phân và phủ tạng nhiễm ký sinh trùng) để định danh phân loại những loài giun sán trên đàn bò.

Đánh giá biến đổi bệnh lý do ký sinh trùng trên những cơ quan của bò bị nhiễm giun sán.

Bố trí thí nghiệm điều trị những bò, bê bị nhiễm một số loài giun, sán với tỷ lệ nhiễm cao sau khi có kết quả xét nghiệm phân bằng một số loại thuốc trên thị trường.

Đánh giá hiệu quả thuốc bằng cách kiểm tra phân sau 7 ngày sử dụng thuốc điều trị.

Lập bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh.

Đề xuất những biện pháp khả thi để phòng trị các loài ký sinh trùng phát hiện được trên đàn bò được khảo sát nhằm phục vụ chương trình phát triển chăn nuôi bò trong nhân dân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả điều tra tình hình nhiễn giun, sán trên đàn bò qua các phương pháp thực hiện: số liệu chính xác phản ánh được tình hình thực tế tại địa phương.

Qua điều tra 1.000 bò hạ thịt tại các lò giết mổ: tỷ lệ nhiễm giun sán chung là 78,30%, trong đó 66,70% nhiễm sán lá dạ cỏ; 49,20% nhiễm giun dạ múi khế và 7,5% nhiễm giun xoang bụng. Có 31,70% bò nhiễm 2 loài; 6,70% bò nhiễm 3 loài giun sán;

+ Tỷ lệ nhiễm cao nhất khảo sát tại lò mổ huyện Trảng Bàng (chiếm tỷ lệ 82,31%), kế đến huyện Dương Minh Châu (chiếm tỷ lệ 78,18%), Gò Dầu (chiếm tỷ lệ 77,69%), Tân Châu (chiếm tỷ lệ 76,15%), tỷ lệ nhiễm thấp nhất tại huyện Tân Biên (chiếm tỷ lệ 73,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở giống bò lai sind, ta vàng và giống khác (chủ yếu là bò vàng nguồn gốc Campuchia) lần lượt là 75,81%; 77,42% và 91,06%. Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá tăng dần theo các nhóm tuổi của bò dưới 3 tuổi, từ 3 - 5 tuổi và trên 5 tuổi lần lượt là 70,22%; 77,08% và 84,39% (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở bò cái (chiếm 78,63%) cao hơn bò đực (chiếm 77,94% (P > 0,05). Bò chỉ nhiễm 1 loài giun sán chiếm tỷ lệ 39,90%, nhiễm 2 loài chiếm 31,70%, nhiễm 3 loài trở lên chiếm 6,70%.

- Điều tra 2.000 bò nuôi phát hiện bò thường nhiễm giun sán: sán lá dạ cỏ, giun dạ múi khế, giun đũa, sán lá gan, cầu trùng, sán dây, giun tóc, giun kết hạt ... tỷ lệ nhiễm chung là 71,25%, cao nhất là nhiễm sán lá dạ cỏ (50,45%) kế đến là giun dạ múi khế (39,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán cao nhất ở bò nuôi tại huyện Trảng Bàng (chiếm 80,33%), kế đến là Thị xã (chiếm 76,52%), Hoà Thành (chiếm 76,43%), Châu Thành (chiếm 73,75%), Tân Châu (chiếm 72,35%), Gò Dầu (chiếm 68,33%), Dương Minh Châu (chiếm 67,31%), Tân Biên (chiếm 67,27%) và thấp nhất là ở bò nuôi tại huyện Bến Cầu (chiếm 57,00%); tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò nuôi theo phương thức bán chăn thả (chiếm 76,40%) cao hơn bò nuôi nhốt (chiếm 61,29%) (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán giống bò sữa (chủ yếu bò giống Hostein Friesian - F1, F2, F3) thấp nhất (chiếm 63,76%), kế đến là giống bò lai Sind (chiếm 69,58%), bò ta vàng (chiếm 71,79%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là các giống bò khác, bao gồm bò nguồn gốc Campuchia, bò Thái ... (chiếm 89,06%). Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán tăng dần theo lứa tuổi bò từ bò dưới 1 tuổi, bò từ 1 - 3 tuổi, bò từ 3

- 5 tuổi và bò trên 5 tuổi lần lượt là 62,34%; 69,76%; 73,33% và 81,09%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo lứa tuổi bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò đực (chiếm 72,79%) cao hơn bò cái (chiếm 70,33%). Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

+ Tỷ lệ bò nhiễm giun sán tăng theo qui mô của hộ chăn nuôi bò. Tỷ lệ bò nhiễm giun sán ở qui mô chăn nuôi từ 1 - 5 con, từ 6 - 10 con và trên 10 con lần lượt là 68,56%; 72,63% và 77,29%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo qui mô chăn nuôi có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở mùa mưa (chiếm 72,50%) cao hơn mùa khô (chiếm 69,70%). Tuy nhiên, sự khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

Qua điều trị 400 bò nhiễm giun sán: điều trị giun tròn: thuốc Polystrongle hiệu quả hơn thuốc Bivermectin; điều trị sán lá: thuốc Valbazen hiệu quả hơn thuốc Dovenix.

Qua xét nghiệm 100 tiêu bản vi thể cơ quan nội tạng bò nhiễm giun sán cho thấy có sự tổn thương tại những cơ quan nhiễm giun sán như dạ dỏ, dạ múi khế và ở những cơ quan mà trong chu kỳ sống ấu trùng di hành qua như gan, phổi, ruột, thực quản... Từ đó, sẽ ảnh hưởng sức khoẻ, sự tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng của bò và làm giảm năng suất chăn nuôi.

Biện pháp phòng và điều trị bệnh giun, sán trên bò đảm bảo tính khoa học và ứng dụng:

+ Phòng chống bằng thuốc, vệ sinh môi trường, bằng vaccin, diệt các loài vật chủ trung gian truyền bệnh; cơ quan thú y định kỳ kiểm tra, kịp thời phát hiện những loài giun sán ký sinh trên gia súc nuôi để có khuyến cáo, hướng dẫn cán bộ thú y và người chăn nuôi sử dụng thuốc phòng trị hợp lý.

Bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 14/9/2006. Trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Ninh triển khai ứng dụng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu cho học sinh, giáo viên khoa chăn nuôi thú y và các hộ chăn nuôi trong tỉnh;

Sử dụng kết quả khảo sát, hình ảnh đề tài viết một số nội dung phần giun, sán bò trong giáo trình Bệnh ký sinh trùng thú y giảng dạy chuyên ngành chăn nuôi thú y tại trường;

Đào tạo được 430 học viên, học viên ứng dụng kiến thức đã học để chuẩn đoán, điều trị bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò tại địa phương.

Sử dụng kết quả của đề tài tiếp tục thực hiện hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành:

+ Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy phần chuyên biệt học phần bệnh ký sinh trùng tại trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật tại Tây Ninh”, năm học 2009 - 2010, xếp loại Khá.

+ Đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số loại thuốc điều trị giun sán đường tiêu hoá trên bò nuôi tại một số địa bàn thuộc tỉnh Tây Ninh”, năm học 2010 - 2011, xếp loại Khá.

Làm tài liệu nghiên cứu một số nội dung của đề tài cấp tỉnh: “Xây dựng mô hình trạm xá thú y tai trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuat Tây Ninh”, CNĐT: ThS. Lê Thị Kim Lan.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó

- Số sáng kiến cấp cơ sở đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 466/599, với 01 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), 239 sáng kiến đạt loại B (khá), và 226 sáng kiến đạt loại C (trung bình).

- Số sáng kiến cấp cơ sở không đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 133/599.

(Danh sách kèm theo) SO KH_CN GUI SAP XEP LAI DANH SACH (27-11-2018).doc

 

                                                                                              Ngọc Hà

11/12/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:

Đề tài về lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ "Điều tra, đánh giá tiềm năng tài nguyên nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu chung của Đề tài này là điều tra đánh giá tiềm năng, chất lượng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh; Đề xuất những giải pháp, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh.

Đề tài thứ 2 về lĩnh vực khoa học nông nghệp "Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm từ thịt bò của tỉnh Tây Ninh."  Với mục tiêu chung là góp phần nâng cao giá trị các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Duy trì  danh tiếng sản phẩm từ con bò của tỉnh và nâng cao đời sống người dân vùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Bên cạnh đó, đề tài còn xây dựng quy trình chăn nuôi, sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xác định các tiêu chí và phương pháp chứng nhận của các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xây dựng hệ thống tổ chức, phương tiện, điều kiện để quản lý và khai thác nhãn hiệu chứng nhận./.

 

                                                                                              Ngọc Hà

22/12/2018 8:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017

​Danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước (đến hết năm 2020) : Năm 2017

​Năm 2017: nam2017.pdf

01/03/2021 12:00 CHĐã ban hànhTin
Nghiên cứu nguyên nhân gây ra dông sét và đề xuất các giải pháp phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu tỉnh Tây NinhNghiên cứu nguyên nhân gây ra dông sét và đề xuất các giải pháp phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Ngọc Thanh Cơ quan chủ trì: Phân viện Địa lý TP.HCM (nay là Viện Địa lý Tài nguyên TP.HCM) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2010 Kinh phí thực hiện: 572,404 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xác định các nguyên nhân xuất hiện dông sét có tính tập trung cao; phổ biến kiến thức và cung cấp tài liệu cho nhân dân nhằm nâng cao sự hiểu biết về dông sét, trên cơ sở đó hướng dẫn người dân các biện pháp tự phòng tránh.

-     Đề xuất các giải pháp phòng tránh có hiệu quả nhằm làm giảm nhẹ các thiệt hại do hiện tượng dông sét gây ra trong các khu vực nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra và lập cơ sở trong nhân dân ghi nhận xuất hiện dông sét.

-     Số hóa các bản đồ: 36 sơ đồ, bản đồ.

-     Thực hiện 6 chuyên đề gồm: Nghiên cứu địa vật lý - cấu trúc địa chất; Nghiên cứu đặc điểm đại chất trầm tích; Nghiên cứu đặc điểm khí hậu - khí tượng; Nghiên cứu diễn biến sử dụng đất qua các thời kỳ; Nghiên cứu đặc điểm địa hình - địa mạo; Nghiên cứu đặc điểm địa chất công trình - địa chất thủy văn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Dông sét là một hiện tượng ngẫu nhiên, tùy theo đặc điểm tự nhiên của nó có thể xảy ra trong khu vực này nhiều hơn so với khu vực khác.

-     Xác định được nguyên nhân tổng quát xuất hiện dông sét trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu: các dạng hình thế thời tiết ảnh hưởng đến Tây Ninh, và đặc điểm địa hình của Tây Ninh khu vực lân cận, tác động của biến động khí hậu trong 30 năm trở lại đây.

+ Các dạng hình thế thời tiết ảnh hưởng đến Tây Ninh: trong tháng 4, vào thời kỳ mưa chuyển mùa, áp thấp nóng Ấn Miến tiếp tục phát triển mạnh hơn sang phía đông, tạo nên rãnh thấp gió mùa theo hướng Tây - Đông vắt qua 25 ÷ 27 vĩ độ Bắc;

+ Cuối tháng 4 đầu tháng 5, áp thấp nóng phát triển nhanh sang phía đông, kết hợp với hình thành một xoáy thuận nhiệt đới với vịnh Bengal, gió Tây Nam có cường độ yếu bắt đầu xuất hiện trên miền Đông Nam Bộ. Hoạt động của gió mùa Tây Nam là nguyên nhân chủ yếu gây nên mưa trong những tháng đầu mùa mưa;

+ Trong mùa mưa ở khu vực Nam Bộ thường xảy ra những đợt ít mưa kéo dài từ 5 đến 10 ngày (khoảng tháng 6 đến tháng 8), sau các đợt này thường xuất hiện dông mạnh kèm theo mưa to.

+ Đặc điểm địa hình của Tây Ninh và khu vực lân cận: nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi cao nguyên Nam Trung Bộ và ĐBSCL, nên địa hình Tây Ninh nghiêng từ Đông Bắc xuống Tây Nam;

+ Vùng Bến Cầu trũng hơn hai huyện Tân Biên và Tân Châu, gió Tây Nam đến huyện Bến Cầu, qua đồng bằng Campuchia khô hạn, không khí nóng và gặp sự bốc hơi mạnh nên điều kiện thuận lợi cho việc hình thành mây dông;

+ Khi thời tiết chuyển mùa với trường gió lệch đông đến Đông Nam xuất hiện thì địa hình vùng Tân Biên, Tân Châu lại là nơi đón gió sớm hơn phần phía Tây, những khối mây tích vũ hình thành từ biển vào dẫn đến hệ quả là vào nửa cuối tháng 9 đến tháng 10, khu vực này có dông sét nhiều hơn các khu vực khác;

+ Lượng mưa nhiều dẫn đến khả năng xuất hiện dông sét nhiều; từ đó cho phép đưa ra dự báo thời gian xảy ra dông sét hàng năm trong khu vực nghiên cứu: thời gian thường có dông sét trong ngày là từ 15 giờ trở đi; hiện tượng dông sét xảy ra vào các tháng : IV, V, VI, IX, X;

+ Tân Biên xảy ra dông sét nhiều từ tháng 4 đến tháng 7 (trong mùa gió mùa Tây Nam); Tân Châu xảy ra dông sét nhiều từ tháng 5 tháng 8, và tháng 9 (cả trong mùa gió mùa Tây Nam và Đông Nam); Bến Cầu xảy ra dông sét nhiều từ tháng 5 đến tháng 7 (trong mùa gió mùa Tây Nam).

+ Tác động của biến động khí hậu trong 30 năm trở lại đây: nhiệt độ không khí và nhiệt độ mặt đất, tốc độ gió mạnh nhất, lượng bốc hơi, lượng năm đều có xu hướng tăng; số giờ nắng lại giảm.

-     Nguyên nhân đặc thù xuất hiện dông sét có tính chọn lọc trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu xuất phát từ các điều kiện tự nhiên đặc thù bao gồm: đặc điểm mật độ dông sét, địa hình, hiện trạng sử dụng đất, đất ngập nước, địa chất, địa chất thủy văn, điện trở suất và từ trường.

-     Đã xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sét đánh cho khu vực Tân Biên, Tân Châu và Bến Cầu.

-     Đã đưa ra dự báo dông sét hàng năm trong khu vực nghiên cứu.

-     Đã đề xuất các giải pháp cụ thể để phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại về người và của cải vật chất do dông sét gây ra trong khu vực nghiên cứu gồm giải pháp công trình (sử dụng các thiết bị chống sét như thu lôi, cắt lọc sét; công trình trú sét cho người lao động ngoài trời; hệ thống cảnh báo sớm dông sét) và phi công trình (các biện pháp giáo dục về phòng tránh sét; tăng cường phổ biến kiến thức phòng tránh qua truyền thông đại chúng).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Giao thông Vận tải; Sở Xây dựng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi) ứng dụng trong công tác quản lý của ngành và sử dụng kết quả nghiên cứu đề tài làm tài liệu tham khảo trong việc tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân về kiến thức phòng tránh dông sét, giảm nhẹ rủi ro do thiên tai gây ra.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xây dựng lực lượng Công an xã vững mạnh, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về An ninh trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây NinhXây dựng lực lượng Công an xã vững mạnh, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về An ninh trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Văn Chiến Cơ quan chủ trì: Công an Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 – 2006 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 82,895 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Nghiên cứu toàn diện lực lượng Công an xã trong tỉnh: chức năng nhiệm vụ của lực lượng Công an xã trong việc đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự, quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Qua đó đưa ra các giải pháp nhằm củng cố xây dựng lực lượng, khắc phục những hạn chế yếu kém; bồi dưỡng, huấn luyện và trang bị phương tiện hoạt động; chế độ chính sách cho lực lượng Công an xã, để lực lượng này đảm bảo thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn an ninh trật tự (ANTT) ở cơ sở trong tình hình mới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng về biên chế, lực lượng Công an xã toàn tỉnh từ khi có Nghị định 40/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ đến nay. Kết quả đạt được trong thực hiện công tác giữ gìn an ninh trật tự; quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, từ khi có Nghị định 40/CP đến nay và những tồn tại, hạn chế.

- Đánh giá nguyên nhân đạt được, những hạn chế yếu kém về đội ngũ Công an xã, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.

Đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ lớn sau:

- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của các cấp chính quyền, đối với lực lượng Công an xã.

- Tiếp tục củng cố và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ, trong đó tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng tuần tra nhân dân (TTND).

- Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Công an cấp trên đối với lực lượng Công an xã. Tập trung đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị, pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn, cho lực lượng Công an xã.

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, xây dựng lực lượng Công an xã trong thời gian tới.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên chế của Công an các xã, thị trấn trong tỉnh đã được kiện toàn theo mô hình thống nhất: mỗi xã có 01 Trưởng công an xã, 02 Phó công an xã, có từ 03 công an viên thường trực tại xã và mỗi ấp, khu phố bố trí 01 công an viên phụ trách.

- Về trang bị, phương tiện làm việc: hầu hết Công an xã, thị trấn trong tỉnh đều được bố trí từ 01 đến 02 phòng làm việc, nằm trong khuôn viên trụ sở UBND xã, thị trấn; được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, phương tiện thông tin liên lạc, trang phục và các phương tiện khác.

- Lực lượng Công an xã đã phát huy được chức năng nhiệm vụ của mình, đóng vai trò quan trọng việc giữ gìn an ninh trật tự, quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội và trong xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

- Tuy nhiên lực lượng Công an xã cũng còn một số hạn chế, tồn tại như: công tác nắm tình hình chưa kịp thời; công tác quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội còn sơ hở; việc xây dựng và củng cố phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ chưa đáp ứng yêu cầu công tác nghiệp vụ của ngành; trình độ, năng lực đội ngũ Công an xã còn hạn chế.

- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế là: cấp ủy, chính quyền và Công an cấp huyện một số nơi chưa quan tâm đầy đủ việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động Công an xã; lực lượng Công an xã (nhất là công an viên) số lượng không ổn định; nhiều công an viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức vi phạm kỷ luật; trang bị, phương tiện làm việc; chế độ, chính sách đối với Công an xã chưa đảm bảo.

- Giải pháp thực hiện là đào tạo nâng cao trình độ; củng cố tổ chức; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp; sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Công an cấp trên; nhằm xây dựng, củng cố lực lượng Công an xã ngày càng vững mạnh; đào tạo, bồi dưỡng cho Trưởng, Phó trưởng Công an xã và Công an viên vững về nghiệp vụ chuyên môn, pháp luật, lý luận chính trị, đồng thời xây dựng, củng cố lực lượng nòng cốt quản lý địa bàn (mô hình tổ tự quản), góp phần đảm bảo giữ gìn ANTT ở cơ sở, có tính khả thi cao về mọi mặt:

+ Đối với đội ngũ Trưởng, Phó Công an xã và Công an viên: cần nhanh chóng mở lớp đào tạo trình độ Trung cấp nghiệp vụ và Trung cấp chính trị theo kế hoạch của Công an tỉnh, thực hiện theo Quyết định số 1369/QĐ-BCA(X14) của Bộ trưởng Bộ Công an.

+ Đối với đội ngũ Công an viên: hằng năm Công an tỉnh duy trì việc mở lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho tất cả Công an viên các xã, thị trấn trong tỉnh. Đối với số Công an viên mới được tuyển chọn, phải được tập huấn nhiều hơn, nhằm đào tạo, huấn luyện giúp cho lực lượng này nắm vững kiến thức cơ bản về Công an xã và các mặt công tác nghiệp vụ công an.

+ Bố trí Công an chính quy về làm Trưởng hoặc cấp Phó Công an xã, thị trấn, nơi mà những địa phương trọng điểm và phức tạp về ANTT. Tăng cường số lượng Công an viên thường trực tại xã; tuyển chọn cán bộ là người dân tộc làm Công an xã ở những khu vực có đông đồng bào dân tộc cư ngụ theo cộng đồng.

+ Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng làm công tác ANTT ở cơ sở (trong đó đặc biệt chú ý củng cố, nâng cao chất lượng của các Tổ tự quản).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 15/01/2007. Công an tỉnh Tây Ninh tổ chức triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác quản lý của ngành ở 3 xã: Tân Hưng (huyện Tân Châu), Thạnh Bắc (huyện Tân Biên) và Hảo Đước (huyện Châu Thành). Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, Công an tỉnh đề xuất thực hiện những vấn đề trọng tâm sau:

- Đề xuất Bộ Công an:

+ Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị định 40/NĐ-CP về Công an xã, trên cơ sở đó đề xuất Bộ Công an đề nghị Chính phủ ban hành Pháp lệnh về Công an xã (thay thế cho Nghị định 40/NĐ-CP);

+ Ban hành chế độ công tác của lực lượng Công an phụ trách xã để thống nhất việc điều hành, quản lý hoạt động của lực lượng Công an xã trên toàn quốc;

- Đề xuất UBND tỉnh:

+ Tăng số lượng Công an viên thường trực tại xã theo hướng xã, thị trấn có dân số dưới

9.000 người, thì được bố trí 03 Công an viên thường trực tại xã; nếu xã, thị trấn có số dân trên 9.000 người trở lên thì cứ tăng 3.000 người dân được bố trí thêm 01 Công an viên thường trực .

+ Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 428/QĐ-UB ngày 07/7/1994, trên cơ sở đó đề xuất UBMTTQ Việt Nam tỉnh Tây Ninh phối hợp với các ngành chức năng ban hành quy chế mới về hoạt động của Tổ tự quản, đồng thời tính toán điều chỉnh lại quy mô của các Tổ tự quản theo hướng giảm bớt số hộ dân trong mỗi tổ, để thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh.

+ Ban hành văn bản có tính pháp quy, quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và các vấn đề khác về lực lượng TTND.

+ Chỉ đạo các ngành chức năng triển khai việc xây dựng nhà tạm giữ hành chính tại các xã, phường, thị trấn, thực hiện theo Quyết định số 80/2002/QĐ-UB ngày 30/7/2002.

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu ứng dụng xây dựng kho tài liệu và cơ sở dữ liệu địa chí tỉnh Tây NinhNghiên cứu ứng dụng xây dựng kho tài liệu và cơ sở dữ liệu địa chí tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Phạm Hồng Toàn và CN. Võ Thị Kim Thanh Cơ quan chủ trì: Thư viện tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 - 2005 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 168,24 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xây dựng kho tài liệu địa chí trong thư viện tỉnh Tây Ninh

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, sao chụp các tài liệu có liên quan đến tỉnh Tây Ninh về:

-  Tự nhiên và dân cư bao gồm: Địa lý hành chính, địa hình, địa chất khoáng sản, khí hậu thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật, động vật, dân cư, dân số, dân tộc.

-  Lịch sử và truyền thống đấu tranh, tình hình chính trị xã hội.

-  Kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc.

-  Văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao.

Tổ chức kho tài liệu địa chí trong thư viện tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thu thập được 5.011 tài liệu và đóng bìa thành 189 quyển. Tất cả tài liệu đều được xử lý nghiệp vụ tại Thư viện tỉnh Tây Ninh. Tài liệu đưa vào thư mục bao gồm sách, báo, tài liệu lưu trữ từ năm 2004 trở về trước. Những tài liệu trên, báo chí Trung ương hầu hết được khai thác.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 215/QĐ-UBND ngày 02/10/2006. Bộ thư mục tài liệu địa chí được phục vụ bạn đọc tại Thư viện tỉnh Tây Ninh Từ năm 2007 đến nay tổng số lượt bạn đọc: 814 lượt, chủ yếu là học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh nước ngoài đến tham khảo tài liệu dùng vào việc học tập và nghiên cứu, viết luận án tốt nghiệp (Thạc sĩ, Tiến sĩ...) cụ thể như sau:

-  Huỳnh Phương Trang, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh với Đề tài: “Đạo Cao Đài hiện nay và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ”.

-  Bùi Thị Bửu Châu, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh, Đề tài “Phân tích chính sách tài chính đầu tư cho ngành giáo dục địa phương”.

-  Lương Hồng Nhung, giáo viên Trường THPT Tây Ninh, Đề tài “Nghiên cứu đa dạng hóa cây ăn quả ở Thị xã Tây Ninh”.

-  Nông Thế Hải, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh, Đề tài “Công nhân Tây Ninh giai đoạn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”;

“Vấn đề xóa đói giảm nghèo bền vững ở Tây Ninh giai đoạn từ nay đến 2015 (tầm nhìn đến 2020)”.

“Đổi mới tư duy và lối sống của cộng đồng người Việt ở Tây Ninh giai đoạn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

“Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở tỉnh Tây Ninh”.

-  Nghiên cứu sinh người Nhật tên Kitazava-Nahiro mượn tài liệu viết luận án Tiến sĩ, Đề tài “Tôn giáo Cao Đài ở Tây Ninh”. Thời gian 01 năm từ tháng 11/2010 đến tháng 11/2012.

-  Sinh viên Trần Quang Nhựt - Khoa sử Trường Đại học Quy Nhơn mượn tài liệu địa chí viết luận văn tốt nghiệp Đại học. Đề tài “Giáo lý, kiến trúc xây dựng, nghi lễ trang phục, Tam kỳ phổ độ - Cao Đài Tây Ninh”.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu TiếngThực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu Tiếng
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài "Thực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu Tiếng" do PGS.TS Đỗ Tiến Lanh - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam làm chủ nhiệm.

Detaikh.jpg

Cơ quan chủ trì đề tài trình bày nội dung đề cương tại cuộc họp

Tham dự phiên họp Hội đồng có ông Nguyễn Minh Hiệp, PGĐ Sở KH&CN Tây Ninh, Chủ tịch Hội đồng; ông Trần Minh Sơn, PGĐ Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh, PCT Hội đồng; GS.TS Đào Xuân Học, Trường Đại học Thủy lợi; PGS.TS Nguyễn Đăng Tính, Trường Đại học Thủy lợi tham gia phản biện, cùng với các thành viên khác đang công tác tại các đơn vị có liên quan.

Với mục tiêu xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp giảm thiểu tổn thất nguồn nước trên hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng thuộc địa bàn tỉnh Tây Ninh (từ sau cống đầu kênh cấp I), để nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong quản lý, vận hành hệ thống cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đề tài được Hội đồng xét duyệt đề cương thống nhất triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị cơ quan chủ trì hoàn chỉnh lại các nội dung theo góp ý tại cuộc họp và gửi về Sở KH&CN để tiến hành thủ tục theo quy định./.

 

                                                                                              Phòng TT - SHTT

25/03/2015 3:00 CHĐã ban hành
UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018

Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.

Theo nội dung Quyết định, toàn tỉnh có tất cả 91 sáng kiến được đề xuất công nhận sáng kiến cấp tỉnh. Sau khi được hội đồng sáng kiến cấp tỉnh (gọi tắt là Hội đồng) xem xét, đánh giá và đưa ra kết quả đánh giá gồm: 01 sáng kiến đạt loại A (Xuất sắc), 83 sáng kiến đạt loại B (Khá), 04 sáng kiến đạt loại C (Trung bình) và 03 sáng kiến không đạt yêu cầu công nhận là sáng kiến cấp tỉnh.

Được biết, sáng kiến duy nhất đạt loại A là về "Tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tổ chức, phối hợp tổ chức thực hiện việc ứng dụng mạng xã hội Zalo trong tiếp nhận phản ánh kiến nghị và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh". Đây là sáng kiến được đánh giá cao và đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Xem danh sách công nhận sáng kiến tại đây. Cong nhan SKCT 2018_Danh sach.doc

                                                                                                     Ngọc Hà

10/05/2019 3:00 CHĐã ban hànhTin loại 4
Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, cơ quan chủ trì đề tài là Trung tâm nghiên cứu ong Miền Nam được thực hiện bởi Chủ nhiệm đề tài là KS Nguyễn Anh Khoa trong 24 tháng.

Được biết đề tài được thực hiện với mục tiêu  xây dựng và phát triển nghề nuôi ong  tại Tây Ninh theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm có giá trị kinh tế cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Đối tượng nghiên cứu của loài ong mật khá phổ biến hiện nay gồm: ong ngoại (Apis mellifera), ong nội (Apis cerana) và ong dú (Trigona sp). Đồng thời, Đề tài còn xây dựng  02 quy trình kỹ thuật  nuôi ong và phòng trị bệnh cho 02 loài ong mật là ong ngoại và ong dú, xây dựng mô hình nuôi ong.

Bên cạnh đó, hoàn thiện 02 quy trình kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm từ ong mật như mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa ong chúa…

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014
Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ được phê duyệt năm 2014

 Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh thông báo 

Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015
Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

Sở Khoa học và công nghệ thông báo 

Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Số giấy phép: 01/GP-TTĐT, Sở Thông tin và Truyền thông Tây Ninh cấp ngày 08/01/2021.
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, Tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính:  Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh.
Điện thoại: 0276.3822233 - Email:toweb@tayninh.gov.vn.