Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học - Kết quả các chương trình, đề tài
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium ...
 
Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:- Tên đề tài: "Biên soạn, chỉnh lý, bổ sung địa lý y tế quân sự tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011-2015".- Cơ quan ...
 
Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:- Tên đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".- Cơ ...
 
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 ...
 
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017.
 
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.
 
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.
 
Ngày 22/02/2017, tại phòng họp Sở Khoa học và Công nghệ, hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh đã tổ chức họp lần thứ 3 để đánh giá các sáng kiến cấp tỉnh.
 
Ngày 16/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây ...
 
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả ...
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Khảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lýKhảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lý
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Ngọc Hòa Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện là: 155,1 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Nghiên cứu các lễ hội ở Tây Ninh để tìm ra được các giá trị văn hóa, trên cơ sở đó có kế hoạch bảo tồn, phát triển phù hợp văn hóa dân tộc và tập tục địa phương; góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho thế hệ trẻ.

-     Đề xuất các giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Cơ sở lý luận về lễ hội (khái niệm, phân loại, giá trị....)

-     Lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Tây Ninh

-     Các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh

-     Giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (giá trị tâm linh, giá trị nghệ thuật, trò chơi dân gian, giá trị thẩm mỹ ứng xử - nối kết cộng đồng, giá trị giáo dục truyền thống; các mặt còn hạn chế của lễ hội Tây Ninh).

-     Các định hướng, giải pháp bảo tồn, phát huy và quản lý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Hệ thống lễ hội Tây Ninh có thể chia thành 3 dạng: lễ hội dân gian (lễ hội dân gian Việt, lễ hội dân tộc ít người), lễ hội tôn giáo (lễ hội đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo), và lễ hội lịch sử cách mạng.

+ Lễ hội dân gian Việt: Tây Ninh có 78 đình, dinh, đèn, miếu và điện đang hoạt động với chu kỳ hàng năm tập trung vào lễ hội chính là Kỳ Yên (thường vào tháng Giêng, 2, 3, 4, 6, 8, 11 và tháng Chạp âm lịch); ngoài lễ chính, còn tổ chức các lễ phụ (Cầu bông, Khai hạ, Tống ôn, Niêm ấn);

+ Lễ hội dân tộc ít người: dân tộc Khmer có 3 lễ hội (Chol Thmây, Đôn ta, Ok-Oom-Bok); dân tộc Chăm (Ramadan, Haji, Maulua); dân tộc Tà Mun (Samco, Donta); người Hoa (lễ vía Quan Thánh Đế Quân, Vía Thiên Hậu Thánh Mẫu);

+ Lễ hội đạo Cao Đài: lễ Vía Đức Chí Tôn, lễ Thượng ngươn, Hội Yến Diêu Trì; Phật giáo (lễ hội Phật Đản và Vu Lan); Thiên chúa giáo (lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh);

+ Lễ hội lịch sử cách mạng: với trên 300 di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng, trong đó có những di tích mang tầm quốc gia (Trung ương Cục, Ban An ninh Miền, Căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam, Căn cứ mặt trận giải phóng Miền Nam, Căn cứ Tua Hai Đồng Khởi); lễ hội xuân Núi Bà Đen được tổ chức vào dịp lễ tết cổ truyền dân tộc hàng năm.

-     Đề tài đã khảo cứu khoảng 18 lễ hội ở Tây Ninh, những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay.

+ Ở Tây Ninh có khoảng 18 lễ hội: lễ hội Đình (lễ Kỳ Yên), hội Quan lớn Trà Vong, Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, tôn giáo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo, dân tộc Khmer, dân tộc Chăm, dân tộc Tà Mun, dân tộc Hoa, làng nghề truyền thống, tín ngưỡng dân gian (lễ Miếu Bà), hội xuân Núi Bà, giao thừa, truyền thống cách mạng Động Kim Quang, chiến thắng Tua Hai, mừng 30/4 đại thắng, Rừng Rong.

+ Những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay: giá trị cố kết cộng đồng; giá trị hướng về nguồn (nguồn cội tự nhiên và xã hội); giá trị cân bằng đời sống tâm linh; giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa; giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

-     Thực trạng quản lý lễ hội Tây Ninh trong những năm qua: một số đình, đền, dinh... hiện nay ở Tây Ninh, khi tế lễ lại tạm mượn nhạc lễ của tôn giáo Cao Đài, một số nơi chuyển hẳn từ vật tế lễ mặn thành vật tế lễ chay, thập bát ban võ nghệ để thờ tự thành câu đối của Cao Đài (màu sắc của lễ hội truyền thống dân gian đã nhuốm màu sắc tôn giáo).

-     Đã là lễ hội bao giờ cũng có hai phần “lễ và hội” cộng hưởng với nhau tạo thành diện mạo trang nghiêm và hấp dẫn của một lễ hội. Qua khảo sát của Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, ở nhiều nơi phần lễ còn quá đơn giản, chưa tạo được ấn tượng tôn vinh các vị tiền bối có công với nước.

-     Đề xuất giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

+ Cần sưu tầm lại để phục hồi đúng bài bản gốc phần “lễ và hội”, có sự định hướng tăng cường phần thu hút quần chúng; lễ hội đáp ứng được mục đích giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc; việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội dân gian gắn với du lịch văn hóa - du lịch lễ hội;

+ Tổ chức đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội trên cả 3 mặt: hành chánh pháp chế (quản lý về luật pháp, tổ chức quy hoạch, chế độ chính sách liên quan đến lễ hội); nghiệp vụ chuyên môn (các hoạt động tác nghiệp giữ gìn và phát huy các lễ hội); kinh tế (quản lý chặt chẽ và có kế hoạch chủ động điều tiết các nguồn thu chi);

+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hệ thống hóa và phổ biến những thông tin về di sản văn hóa phi vật thể - lễ hội; rà soát và hệ thống các văn bản pháp luật về lễ hội đang hiện hành để phổ biến cho cơ sở; tổ chức tập huấn cho cán bộ văn hóa các cấp; in sách giới thiệu các lễ hội ở Tây Ninh, những quy định về quản lý lễ hội... phổ biến cho người dân, cho khách du lịch, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 15/02/2012. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh để triển khai ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây NinhBiên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Tiến Tùng Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 648.857,5 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Làm sáng tỏ quy luật phân bố tài nguyên nước dưới đất, diễn biến số lượng và chất lượng nước dưới đất do tác động của các hoạt động kinh tế ở tỉnh Tây Ninh trong thập kỷ gần đây.

- Đề xuất công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu, điều tra bổ sung, đánh giá chất lượng và trữ lượng nước dưới đất.

- Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh.

- Lập một mô hình dòng chảy nước dưới đất cho toàn bộ khu vực Gò Dầu - Bến Cầu - Trảng Bàng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên hội các bản đồ: bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/50.000; Bản đồ triển vọng khai thác nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000; Các bản đồ phụ trợ và 7 phụ lục; Cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn; Mô hình dòng chảy khai thác nước dưới đất khu vực Gò Dầu, Bến Cầu, Trảng Bàng.

- Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 203.616 công trình khai thác nước dưới đất, trong đó có 83.813 giếng đào vá 119.803 lỗ khoan. Lưu lượng khai thác nước dưới đất phục vụ ăn uống, sinh hoạt, sản xuất là 110.248 m3/ngày.

- Theo sự phân chia địa tầng mới nhất, Tây Ninh được phân chia 8 tầng chứa nước (6 tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích bở rời, 2 tầng chứa nước khe nứt trong đá bazan Pleistocen giữa và các đá nứt nẻ trước Kainozoi) và 8 thành tạo địa chất rất nghèo nước;

- Các tầng chứa nước theo thứ tự từ trên xuống dưới: tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3); Pleistocen giữa - trên (qp2-3); tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa (@qp3); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen giữa (n22); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (n12 ); tầng chứa nước lỗ hổng Miocen trên (n31); tầng chứa nước khe nứt Mesozoi - Paleozoi (ps-ms);

- Trong 8 tầng chứa nước nêu trên, có 5 tầng chứa nước lỗ hỗng: (qp2-3); (qp1); (n22 ); (n12 ); (n31) có khả năng khai thác với quy mô lớn. Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3) và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa và (ps-ms) (ở huyện Tân Châu) đáp ứng cho nhu cầu khai thác nhỏ lẻ đến quy mô vừa.

- Nước dưới đất trong các tầng chủ yếu là nước siêu nhạt, các chỉ tiêu hoá lý đáp ứng được tiêu chuẩn ăn uống; các chỉ tiêu đáng lưu ý nhất về chất lượng nước dưới đất phục vụ cho ăn uống là: pH, hàm lượng sắt và nhôm, hàm lượng Nitrat.

- Trữ lượng khai thác nước dưới đất tiềm năng của tỉnh: 5.099.887 m3/ngày. Trong đó trữ lượng tĩnh trọng lực là 3.387.334 m3/ngày; trữ lượng tĩnh đàn hồi 66.263 m3/ngày. Nguồn bổ cập từ nước mưa: 1.560.561 m3/ngày; nguồn bổ cập từ bên sườn: 11.585 m3/ngày; nguồn bổ cập từ hồ Dầu Tiếng: 74.144 m3/ngày.

- Hiện trạng mực nước và các nguồn nước hình thành trữ lượng được nghiên cứu và tính toán định lượng; đây là những thông tin hữu ít giúp cho việc nghiên cứu và khai thác tài nguyên này cho vùng nghiên cứu;

- Dựa trên các tiêu chí về tỷ lệ tăng dân số, lượng nước tiêu thụ trên đầu người, công nghiệp, thương mại, lượng thất thoát; cho năm 2010 và 2015 là 136.237 m3/ngày và

212.166 m3/ngày.

- Đến cuối năm 2010 ở hầu hết các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 20.791 m3/ngày. Đến năm 2015 thì tất cả các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 70.492 m3/ngày.

- Căn cứ theo hiện tại và quy hoạch các cụm và khu công nghiệp trên toàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tính toán được tổng nhu cầu nước cho 26 cụm và khu công nghiệp là 403.225 m3/ngày.

- Công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất: cập nhật số liệu thường xuyên bằng các số liệu từ mạng quan trắc và điều tra hiện trạng; tiến hành một số thí nghiệm để xác định chính xác các thông số của mô hình; đào tạo các chuyên gia ĐCTV (địa chất thủy văn) và mô hình.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 23/02/2009. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc thẩm định hồ sơ xin cấp phép khai thác nước dưới đất; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép thăm dò nước dưới đất; sử dụng tài nguyên nước.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa tángĐiều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa táng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hận Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 198,96 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

         MỤC TIÊU

-  Quy hoạch việc chôn cất hài cốt tập trung, không sử dụng đất thổ để xây dựng mồ mả, hướng đến tập quán hỏa táng, phù hợp với nền văn minh mới hợp vệ sinh.

-  Quy hoạch nghĩa địa nhằm mục đích đảm bảo tình hình sử dụng đất, đảm bảo vệ sinh nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo môi trường sinh thái nét đẹp mỹ quan đô thị.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

-  Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội.

-  Điều tra, khảo sát hiện trạng chôn cất, phân tích môi trường (đất nước).

-  Thống xử số liệu.

-  Xây dựng hình toán về tốc độ tăng dân số theo tỷ lệ chết.

-  Lập số hóa các loại bản đồ bằng phương pháp GIS.

-  Xây dựng bản đồ quy hoạch nghĩa trang trên phần mềm Mapinfo.

-  Tham quan đề xuất biện pháp hỏa táng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sở Khoa học Công nghệ Tây Ninh đã tiến hành điều tra với số lượng 7.772 phiếu về việc hỏa táng: chỉ 18,6% đồng ý; 5% đồng ý nếu như Nhà nước chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

-  Ý kiến của các đoàn thể tôn giáo đa số đồng ý với hình thức hỏa táng; do vậy với sự tác động của các tổ chức này, tâm về chôn cất của người dân dần dần sẽ thay đổi.

-   Phương pháp hỏa táng: phương pháp dùng nhiệt độ cao (khoảng 600- 10000C) đốt xác người cùng với quan tài các vật liệu tẩm liệm thành tro, xương người khi đó bị cháy thành các mảnh vụn. Một phần tro xương sau đó được cho vào hủ kín để thờ phụng hoặc đem rải xuống sông, hồ.

 

 

 

-  Công nghệ hỏa táng theo nhiên liệu đốt (củi, dầu, điện, gas) xử khói bằng phương pháp đốt bổ sung (đốt lại), gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu (buồng đốt cấp), nhiệt độ cháy được giữ 600 - 9000C, giai đoạn thứ hai (buồng đốt thứ cấp), nhiệt độ 900 - 1.1000C được kiểm soát để tạo ra các sản phẩm cháy hoàn toàn.

-  Thiết bị: phù hợp với đặc thù của tỉnh, đảm bảo tính công nghệ tiên tiến, an toàn bảo vệ môi trường; một số thiết bị chuyên dùng: điện ABB của Thụy Sĩ, gas Pyrox của Canada, hỏa táng Power - pak II của Mỹ.

Qua quá trình thu thập thông tin, dữ liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu hiện trạng nghĩa địa, nghĩa trang trên địa bàn tỉnh, đề tài đã đề xuất được hình hỏa táng xây dựng Trung tâm hỏa táng Tây Ninh trực thuộc Sở lao động, Thương binh hội tỉnh Tây Ninh với công nghệ đốt Power - Pak của Mỹ với nguyên liệu đốt gas. Đây một trung tâm hoạt động công ích thu, đóng góp cho hội về mặt nhân đạo, từ thiện bảo vệ môi trường.

Địa điểm của Trung tâm hỏa táng đáp ứng được nhu cầu của nhiều địa phương, rộng rãi, thoáng, yên tĩnh, trang nghiêm thuận tiện cho đi lại, bố cục kiến trúc hợp lý, tính dân tộc, phù hợp với đặc thù của tỉnh, sạch đẹp tạo ấn tượng tốt về một nơi an nghỉ cuối cùng cho người đã khuất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm của đề tài được chuyển giao cho Sở Lao động Thương Binh hội, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu ứng dụng trong xây dựng đề án về “Nghĩa trang xanh”, trong công tác quản của ngành. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sở khoa học để Sở Lao động Thương binh hội tham mưu UBND tỉnh phê duyệt dự án xây dựng công trình đài hỏa táng tại Trường Hòa, huyện a Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 7/2009, Công ty TNHH Fairy Park Việt Nam (thuộc tập đoàn Fairy Park, Malaysia) trụ sở tại 274, Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng “Sơn Trang Tiên Cảnh” tại ấp Trường Thọ, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh với số vốn đầu 20 triệu USD, tổng diện tích khu đất khoảng 75 ha giai đoạn 1 với diện tích khoảng 14 ha, dự kiến sẽ phục vụ khoảng 5.000 ngôi mộ an táng, trên 8.000 chỗ lưu trữ tro cốt hỏa táng, chưa kể phần mộ cải táng. Sơn Trang Tiên Cảnh được xây dựng theo mô hình Fairy Park tại Malaysia, có phong cảnh cây cỏ, suối nước, non bộ, các tượng thần, thánh của các tôn giáo, đội ngũ nhân viên chăm sóc mộ...

Từ tháng 8/2011, tập đoàn Fairy Park (Malaysia) đưa Sơn Trang Tiên Cảnh đi vào hoạt động. nơi chôn cất được xây dựng theo kiểu kiến trúc mới, hiện đại hợp phong thủy. Phong cách tiên tiến không nhang khói, phù hợp với chính sách bảo vệ môi trường; hộp đựng tro cốt được làm bằng nhôm, nhập khẩu từ Đài Loan, thiêu bằng diesel... Đây hạng mục công trình lớn nhất, hiện đại nhất của nước ngoài đầu vào lĩnh vực này

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa MátĐiều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Ngọc Long và KS. Lý Văn Trợ Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 458,26 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao và các loài thực vật bậc thấp có ý nghĩa khoa học và kinh tế hiện diện trong khu Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát (VQG) cùng với tình trạng phân bố của chúng.

-     Xác định được các quần thể động vật quan trọng tại VQG, mức độ phổ biến và tình trạng nguy cấp, nơi phân bố của chúng.

-     Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên động, thực vật.

-     Lập bản đồ thảm thực vật.

-     Thu thập và bảo quản một số mẫu vật tiêu biểu cho các loài động vật: thú nhỏ, bò sát, cá, chim, côn trùng; thực vật bậc thấp, bậc cao và cây thuốc quan trọng tại VQG tạo cơ sở cần thiết cho các bước nghiên cứu quy hoạch và phát triển Vườn quốc gia sau này.

-     Đề xuất các biện pháp bảo tồn động, thực vật phù hợp.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật bậc cao, thấp.

-     Nghiên cứu về tài nguyên động vật trên cạn và thủy sinh vật.

-     Nghiên cứu, mô tả các vùng sinh thái cảnh quan tiêu biểu, đánh giá tài nguyên về tiềm năng du lịch sinh thái.

-     Xác định vùng phân bố, tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp.

-     Phân vùng chức năng.

-     Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội và môi trường vùng VQG.

-     Ứng dụng công nghệ xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng ngân hàng dữ liệu và hoàn chỉnh các loại sơ đồ bản đồ tỷ lệ 1/25.000.

-     Xác định tác động, mối liên quan giữa khu bảo tồn nghiêm ngặt (vùng lõi) với khu hệ đệm, đề xuất mô hình thích hợp phát triển khu đệm theo hướng đáp ứng mục tiêu bảo tồn khu bảo vệ nghiêm ngặt và các khu bảo vệ chuyên biệt.

-     Phát thảo hoàn chỉnh một số đề án bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư trong nước và quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Đề tài đã tạo ra được bộ tiêu bản động vật, côn trùng và thực vật; Bản đồ hệ thống dữ liệu thông tin địa lý (GIS).

-     Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát có đặc tính ngập nước cục bộ là một khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng thềm bậc cao Đông Nam bộ và đồng bằng thấp trũng lưu vực sông Mê Kông; đất phù sa cổ chiếm phần lớn diện tích của Vườn có thành phần cơ giới đất cát pha đến đất thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém.

-     Nguyên nhân không giữ được nước của đất rừng trong mùa khô mà sự bốc hơi nước quá chênh lệch giữa hai mùa, chỉ có những loài nào có cấu tạo thích nghi được trở nên tồn tại và phát triển (giải thích tại sao rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát cùng tồn tại kiểu rừng nhiệt đới gió mùa và kiểu rừng thưa rụng lá).

-     Hệ thực vật rừng VQG đã tổng kết được khoảng 700 loài với đại diện của 5 ngành thực vật, 60 bộ, 116 họ và 396 chi. Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) là nơi tập trung của nhiều loài thực vật nhất (chiếm 97.1%/tổng số loài thực vật).

-     Dựa vào điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý và khí hậu, thành phần cơ giới của đất, độ ẩm và tốc độ bay hơi nước, rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát đã tồn tại các kiểu thảm rừng khác nhau đan xen nhau theo thể khảm.

-     Có 6 kiểu rừng tiêu biểu cho VQG: kiểu rừng đất ngập nước theo mùa, kiểu rừng thưa thứ sinh, khô, nhiệt đới gió mùa, thưa rụng lá, rừng nguyên sinh. Ở các kiểu rừng này là nơi sinh sống của nhiều loài khác nhau, liên quan đến sự đa dạng sinh vật.

-     Tài nguyên cây thuốc của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát khá phong phú và đa dạng không chỉ về thành phần loài (179 loài) mà cả về công dụng. Một số loài cây thuốc sau đây rất được ưa chuộng và khai thác nhiều: đậu xương, sưng đừng, dây linh, dây nắp ấm, sám lộc, huyết rồng máu, hoàng đằng, lạc tiên, bồ húc, mướp khai.

-     Đã ghi nhận được 149 loài Chim thuộc 15 bộ và 40 họ (có 3 loài quí hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam: Gà lôi hông tía Laphura diardi, Gà đẫy Java Leptotilos javanicus, Hạc cổ trắng Ciconia episcopus).

-     Nhóm ếch nhái gồm 23 loài thuộc 2 bộ, 6 họ và 15 giống (bằng 13,2% loài ếch nhái so với cả nước).

-     Bò sát gồm 56 loài (15 họ và 40 giống) thuộc 2 bộ, trong đó có 18 loài bò sát quí hiếm.

-     Khu hệ cá VQG mang tính đặc trưng của vùng trung lưu và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ, 10 bộ (77/88 loài cá có giá trị kinh tế , 5/88 loài cá có tên trong sách đỏ Việt Nam).

-     Ghi nhận được 29 loài thú của 7 bộ: bộ ăn sâu bọ, bộ dơi, bộ linh trưởng, bộ móng guốc chẵn, bộ ăn thịt, bộ gặm nhấm, bộ thỏ.

-     Hệ Côn trùng ghi nhận được 128 taxa côn trùng thuộc 9 bộ.

-     Những loài thú của Vườn Quốc Gia Lò Gò- Xa Mát đang bị đe dọa nghiêm trọng vì tác động của con người và môi trường phát triển ngày càng xấu; một số loài rất có giá trị nhưng lại bị xếp vào dạng nguy cấp: Vooc Chà vá chân đen, Vooc Bạc, Khỉ đuôi lợn, Culi nhỏ, Sóc bay đen trắng, Dơi chó tai ngắn; chăn thả gia súc trâu bò của người đồng bào Khmer vùng biên giới, nguy cơ cháy rừng thường ngày vào mùa khô, đánh bắt cá, bẫy gà rừng và thú nhỏ.

-     Giải pháp bảo tồn và phát triển của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát: can thiệp bằng lực bảo vệ rừng; xây dựng chương trình giáo dục môi trường phối hợp với trường học trên địa bàn VQG; tiếp tục khảo sát, triển khai việc nghiên cứu thêm các đối tượng mới làm đa dạng tài nguyên sinh học ở VQG.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2926/QĐ-UBND ngày 17/12/2007. Kết quả đề tài được ứng dụng trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái VQG và Dự án đầu tư VQG giai đoạn 2011 - 2020; Một số đề án bảo tồn Đa dạng sinh học đối với: rừng thuần loại cây Sao dầu; các nhóm tài nguyên cây thuốc, các nhóm thú, chim và bò sát quý hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa.

-     Cung cấp tư liệu cho cơ quan báo chí, các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường đại học.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017.

Trong tổng số 430 sáng kiến được công nhận cấp tỉnh, có 06 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), tiêu biểu như "kinh nghiệm tổ chức một số mô hình trong phong trào thi đua "xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" của ông Lê Văn Ngân và ông Lê Thành Nhân (Trường Tiểu học Thuận An), mô hình bếp ăn "Thân thiện" tiếp sức học trò nghèo của ông Nguyễn Văn Quây (Trường THPT Quang Trung).

Có 270 sáng kiến xếp loại B (khá), còn lại đạt loại C (Trung bình).

Những sáng kiến được công nhận là cơ sở để quan trọng để xét, công nhận Danh hiệu "Chiến sỹ thi đua" cấp tỉnh, là nguồn tri thức quan trọng để ngành Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh nghiên cứu, áp dụng đại trà nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của những năm học tiếp theo./.

Thái Thành

04/10/2017 8:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu ứng dụng xây dựng kho tài liệu và cơ sở dữ liệu địa chí tỉnh Tây NinhNghiên cứu ứng dụng xây dựng kho tài liệu và cơ sở dữ liệu địa chí tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Phạm Hồng Toàn và CN. Võ Thị Kim Thanh Cơ quan chủ trì: Thư viện tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 - 2005 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 168,24 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xây dựng kho tài liệu địa chí trong thư viện tỉnh Tây Ninh

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, sao chụp các tài liệu có liên quan đến tỉnh Tây Ninh về:

-  Tự nhiên và dân cư bao gồm: Địa lý hành chính, địa hình, địa chất khoáng sản, khí hậu thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật, động vật, dân cư, dân số, dân tộc.

-  Lịch sử và truyền thống đấu tranh, tình hình chính trị xã hội.

-  Kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc.

-  Văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao.

Tổ chức kho tài liệu địa chí trong thư viện tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thu thập được 5.011 tài liệu và đóng bìa thành 189 quyển. Tất cả tài liệu đều được xử lý nghiệp vụ tại Thư viện tỉnh Tây Ninh. Tài liệu đưa vào thư mục bao gồm sách, báo, tài liệu lưu trữ từ năm 2004 trở về trước. Những tài liệu trên, báo chí Trung ương hầu hết được khai thác.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 215/QĐ-UBND ngày 02/10/2006. Bộ thư mục tài liệu địa chí được phục vụ bạn đọc tại Thư viện tỉnh Tây Ninh Từ năm 2007 đến nay tổng số lượt bạn đọc: 814 lượt, chủ yếu là học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh nước ngoài đến tham khảo tài liệu dùng vào việc học tập và nghiên cứu, viết luận án tốt nghiệp (Thạc sĩ, Tiến sĩ...) cụ thể như sau:

-  Huỳnh Phương Trang, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh với Đề tài: “Đạo Cao Đài hiện nay và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ”.

-  Bùi Thị Bửu Châu, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh, Đề tài “Phân tích chính sách tài chính đầu tư cho ngành giáo dục địa phương”.

-  Lương Hồng Nhung, giáo viên Trường THPT Tây Ninh, Đề tài “Nghiên cứu đa dạng hóa cây ăn quả ở Thị xã Tây Ninh”.

-  Nông Thế Hải, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh, Đề tài “Công nhân Tây Ninh giai đoạn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”;

“Vấn đề xóa đói giảm nghèo bền vững ở Tây Ninh giai đoạn từ nay đến 2015 (tầm nhìn đến 2020)”.

“Đổi mới tư duy và lối sống của cộng đồng người Việt ở Tây Ninh giai đoạn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

“Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở tỉnh Tây Ninh”.

-  Nghiên cứu sinh người Nhật tên Kitazava-Nahiro mượn tài liệu viết luận án Tiến sĩ, Đề tài “Tôn giáo Cao Đài ở Tây Ninh”. Thời gian 01 năm từ tháng 11/2010 đến tháng 11/2012.

-  Sinh viên Trần Quang Nhựt - Khoa sử Trường Đại học Quy Nhơn mượn tài liệu địa chí viết luận văn tốt nghiệp Đại học. Đề tài “Giáo lý, kiến trúc xây dựng, nghi lễ trang phục, Tam kỳ phổ độ - Cao Đài Tây Ninh”.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Thị Thu Hiền Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: năm 2007 Kinh phí thực hiện: 311,066 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh. Phân tích những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân.

Đề ra biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu, phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khoa học về xây dựng tổ chức cơ sở đảng nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở trong toàn tỉnh đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới hiện nay.

-  Làm rõ tính cấp bách, cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân và xác định phương hướng, đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên của tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tính đến 30/9/2006, toàn tỉnh có 599 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 434 chi bộ cơ sở và 165 đảng bộ cơ sở, với 2 đảng bộ bộ phận, 1.450 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; với tổng số đảng viên là 20.561 đảng viên, chiếm tỉ lệ 1,91% so dân số trong tỉnh, trong đó đảng viên có tôn giáo là 1.430 người, chiếm 9,95% tổng số đảng viên toàn tỉnh, đảng viên là dân tộc ít người: 84 người, chiếm 0,41% tổng số đảng viên toàn tỉnh.

+ Kết quả khảo sát điều tra tình hình thực tế ở 596 tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh: hầu hết các tổ chức cơ sở đảng sau mỗi lần đại hội Đảng đều rà soát, bổ sung và xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy và của từng cá nhân Bí thư, Phó Bí thư và ủy viên cấp ủy

+ Năm 2003 có 503/558 (90,41%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 184/503 (36,58%) và 1088/1.197 (90,89%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2004 có 493/563 (87,57%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 94/493 (19,06%) và 1.173/1.285 (91,28%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2005, có 522/577 (90,47%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 146/522 (27,96%) và 1.269/1.365 (92,96%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh. So với năm 2003, cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng 0.32%.

+ Mặt yếu kém: một số cấp ủy tuy có xây dựng quy chế nhưng trong quá trình thực hiện không theo quy chế làm việc; lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cấp ủy chưa thật sự đổi mới, nội dung còn chung chung, hiệu quả không cao, việc phê bình và tự phê bình còn yếu.

-  Chất lượng đội ngũ đảng viên tăng qua các năm: năm 2001(15.878 đảng viên); 2002 (16.929 đảng viên); 2003 (17.909 đảng viên); 2004 (18.939 đảng viên); 2005 (19.840 đảng viên); 2006 (20.561 đảng viên). Tăng bình quân mỗi năm là 5,02%.

+ Các cấp ủy tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đảng viên gắn với việc xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, quản lý, phân công cụ thể cho từng đảng viên được thực hiện tốt.

+ Mặt hạn chế: Một bộ phận đảng viên còn thụ động, tinh thần đấu tranh xây dựng chưa cao, còn thờ ơ thiếu trách nhiệm, chưa gương mẫu trong nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ năng lực. Năm 2005, khi đánh giá chất lượng đảng viên, có 352/5.542 đảng viên đủ tư cách nhưng có mặt hạn chế chiếm 6,35%, đảng viên vi phạm tư cách chiếm 0,9% (167/18.456 đảng viên).

-  Nguyên nhân mặt làm được: Đảng đề ra nghị quyết về đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các cấp ủy Đảng cấp trên cơ sở đề ra hướng dẫn các tiêu chuẩn xây dựng chi, đảng bộ và cụ thể thành biểu điểm thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ chủ chốt đã xác định đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình và của tổ chức đảng; Trung ương ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định đúng đắn.

-  Nguyên nhân của mặt yếu kém: một số cấp ủy các cấp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng ở cơ sở, chưa chỉ đạo chặt chẽ việc đánh giá đúng chất lượng; một số cấp ủy chưa đổi mới cách thức chỉ đạo đối với cơ sở, hội họp nhiều, chất lượng hội nghị không cao, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức cơ sở đảng; công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật của một số tổ chức đảng chưa nghiêm, chưa có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết.

-  Đề án đã làm rõ được mục tiêu và nhiệm vụ cần nghiên cứu, lý giải tính cấp bách phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh Tây Ninh trước nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-  Đề án nêu lên một số giải pháp góp phần vào sự lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn tỉnh, nhằm phấn đấu thực hiện hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 24/8/2007. Kết quả đề án làm cơ sở cho Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong tỉnh Tây Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây NinhĐiều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài:Ths. Đặng Hòa Vĩnh Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 503,802 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Xác định cơ sở dữ liệu về điều kiện tài nguyên thiên nhiên các vùng đất ngập nước (ĐNN) tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá hiện trạng sử dụng ĐNN, xác định chức năng các vùng ĐNN.

-     Cung cấp luận cứ khoa học cho việc quy hoạch, quản lý khai thác và bảo vệ các vùng ĐNN.

-     Đề xuất phương hướng, biện pháp trong công tác khai thác, quản lý, bảo vệ, và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN (có xét đến các điều kiện thay đổi trong tương lai).

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Nghiên cứu các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và quá trình khai thác đất đai có liên quan đến ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Xây dựng bản đồ ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá, dự báo các tác động của con người đến ĐNN trong tương lai.

-     Nghiên cứu, đề xuất phương hướng bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Kết quả kiểm kê ĐNN tỉnh Tây Ninh: 181.539,41 ha chiếm 45,05% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó: đất ngập nước thuộc sông 152.405,28 ha (chiếm 83,95%); đất ngập nước thuộc hồ 28.368,20 ha (chiếm 15,63%); đất ngập nước thuộc đầm 7.765,93 ha (chiếm 4,28%).

-     Chức năng của ĐNN phụ thuộc vào tính chất và vị trí phân bố của từng đơn vị ĐNN khác nhau.

+ Các vùng cao thuộc thượng nguồn hồ Dầu tiếng, bờ phải rạch bến, bờ phải rạch Bến Đá: là vùng khan hiếm nguồn nước, nhưng lại có vai trò rất lớn trong việc cung cấp nước ngọt cho dân sinh và nhiều loài thủy sinh vật;

+ Các vùng tưới của hồ Dầu tiếng: nguồn nước dồi dào, tưới tiêu chủ động; tạo ra môi trường hoạt động cho các ngành kinh tế như thủy sản, nông - lâm nghiệp, giao thông thủy, sản xuất năng lượng, du lịch, khai khoáng;

+ Các vùng ven sông Vàm Cỏ Đông: là nơi tiếp nhận các dưỡng chất, tích lũy các độc chất do các hoạt động khai thác phái trên đổ xuống; là nơi thanh lọc chất gây ô nhiễm, điều hòa lũ lụt. Đây cũng chính là nơi sinh sống quan trọng cho nhiều loài động vật hoang dã, sinh sản của nhiều loài thủy đặc sản địa phương.

-     ĐNN Tây Ninh hiện đang đứng trước nhiều nguy cơ xâm hại.

+ Tình trạng khô kiệt và mất ĐNN: các vùng ĐNN tại Tây Ninh đang ngày càng trở nên khô hơn do tình trạng phá rừng và áp lực gia tăng diện tích canh tác; khai thác tài nguyên quá mức: nguồn lợi thủy sản đã giảm súc đáng kể; ô nhiễm nguồn nước: hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ô nhiễm hữu cơ; sự xâm lấn các loài cỏ dại: nhiều loài cỏ dại không có nguồn gốc bản địa, trong đó có những loài cây gây ảnh hưởng xấu (Mai dương, Lục bình, thủy thảo).

-     Để khai thác hiệu quả và bền vững tài nguyên đất ngập nước, cần phải hạn chế việc lạm thác tài nguyên thủy sản; loại trừ các hình thức khai thác mang tính chất hủy diệt; bảo vệ an toàn môi trường hồ chứa; duy trì đa dạng sinh học; phát huy và mở rộng mô hình du lịch sinh thái.

+ Hệ thống canh tác vùng bán ngập cần đảm bảo an toàn về xói mòn và sạt lở bờ hồ; quản lý chặt chẽ việc sử dụng phân bón trên vùng bán ngập và đặc biệt cấm tuyệt đối việc sử dụng thuốc trừ sâu trên vùng đất này;

+ Xây dựng đê bao chống lũ triệt để vùng ven sông Vàm Cỏ Đông, có thể gây ảnh hưởng đến các chức năng chính của hệ thống ĐNN ven sông này; trước mắt cần san lấp các kênh tiêu trong các vùng đất lâm nghiệp; tại những vị trí buộc phải có cống tiêu, cần có cửa kiểm soát, cuối mùa mưa cống cần được đóng lại duy trì chế độ ngập tự nhiên trong trảng, kéo dài thời gian ngập trong mùa khô;

+ Hiện tại ô nhiễm nguồn nước trên hệ thống kênh rạch đã đến mức báo động, để cải thiện ô nhiễm môi trường hệ thống kênh rạch, ngoài biện pháp quản lý các nguồn nước thải xả xuống hệ thống, còn có thể lợi dụng nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng.

-     Thành lập các bản đồ, sơ đồ về điều kiện tài nguyên thiên nhiên trên các vùng đất ngập nước; bản đồ kiểm kê đất ngập nước tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000; các bản đồ các vùng đất ngập nước tiêu biểu tỷ lệ 1/25.000; các bảng biểu thống kê, phân loại và đánh giá về đất ngập nước tỉnh Tây Ninh; các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp; bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất ngập nước.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 462/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến các cơ quan và đơn vị có liên quan để phục vụ trong công tác quản lý của ngành: Công ty Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng ứng dụng trong khai thác vận hành hồ chứa; Sở Tài nguyên & Môi Trường ứng dụng trong quản lý tài nguyên đất ngập nước.

-     Sở NN&PTNT (Sở tiếp nhận 01/2011): kết quả áp dụng đã triển khai áp dụng 02 dự án:

+ Dự án đê bao chống lũ ven sông Vàm Cỏ nhằm bảo vệ và phát triển diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích tưới 1.800 ha, diện tích tiêu 2.500 ha;

+ Dự án xây dựng đập tràn rạch Tây Ninh nhằm cải thiện tình trạng ô nhiểm rạch Tây Ninh tạo mỹ quan đô thị.

Một số giải pháp áp dụng trong các năm tiếp theo:

+ Xây dựng một số đập tràn, hồ chứa nhỏ vùng Bắc Tây Ninh nhằm giải lưu lượng lũ vào mùa mưa, giữ nước phục vụ sản xuất, tăng mực nước ngầm, cải thiện môi trường sinh thái;

+ Đầu tư một số công trình đê bao vùng ven sông Vàm Cỏ Đông phát triển sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản kết hợp mô hình sản xuất nông nghiệp với thuỷ sản, phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng kết hợp giao thông nội đồng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy hoặc bảo tồn và sử dụng bền bững tài nguyên đất ngập nước của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây NinhQuy hoặc bảo tồn và sử dụng bền bững tài nguyên đất ngập nước của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Triết và ThS. Nguyễn Đình Xuân Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2003 - 2004 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 185,0675 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Thống kê tài nguyên đất ngập nước (ĐNN) của Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (VQG). Định hướng quy hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN.

- Đề nghị các vùng đất ngập nước của VQG vào danh sách các vùng đất ngập nước quan trọng trên thế giới nếu hội đủ tiêu chuẩn của Công ước RAMSAR.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các khu vực đất ngập nước bao gồm: xác định thành phần loài, độ phong phú, tính chỉ thị sinh học, mối tương quan với điều kiện môi trường và sự biến động theo mùa; khảo sát môi trường vật lý của đất ngập nước ; các nhóm sinh vật đề nghị khảo sát.

- Phân tích mẫu nước, mẫu đất; các mẫu thành phần sinh vật gồm: phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy, côn trùng nước, thực vật bậc cao, lưỡng cư-bò sát, cá, chim.

- Thành lập bản đồ hiện trạng đất ngập nước VQG tỷ lệ 1/10.000: bản đồ được thành lập bằng cách giải đoán ảnh vệ tinh ASTER của Nhật (độ phân giải 15m x 15m) kết hợp với kiểm tra, xác định ranh giới ngoài thực địa, ảnh vệ tinh ASTER (Nhật) sẽ được cung cấp bởi Trung tâm Xử lý Số liệu Viễn Thám của Nhật (ERSDAC) và ảnh vệ tinh có độ phân giải 2,5 x 2,5 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

- Định hướng quy hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Bản đồ hiện trạng ĐNN VQG tỷ lệ 1/10.000

- ĐNN của VQG chiếm diện tích 4.533 ha, bao gồm 3.295 ha ĐNN tự nhiên và 1.238 ha ĐNN nhân tạo. ĐNN tự nhiên chiếm 17,5% diện tích toàn vườn.

- Hệ thống phân loại ĐNN của VQGLGXM bao gồm 07 lớp và 10 đơn vị. Các lớp ĐNN: ĐNN thuộc sông; ĐNN thuộc suối; ĐNN thuộc trảng; ĐNN thuộc bàu; kênh đào; ruộng lúa nước; ĐNN bồn trũng nhân tạo.

- Chất lượng nước trong các thủy vực ĐNN VQGLGXM hiện tương đối tốt, ngoại trừ vùng kênh Tà Xia và các kênh phía Nam bị ô nhiễm hữu cơ do nước thải nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt; đoạn đầu của suối Đa Ha cũng nhận một tải lượng ô nhiễm khá lớn từ các vùng đất nông nghiệp bên Campuchia.

- Hóa tính nước của các thủy vực thay đổi đáng kể theo mùa. Vào mùa mưa, tình trạng các thủy vực trở nên thuận lợi cho sự phát triển của các sinh vật thủy sinh.

- Ghi nhận 499 loài phiêu sinh thực vật, 75 loài phiêu sinh động vật, 31 loài động vật đáy, 109 loài côn trùng nước, 206 loài thực vật có mạch, 82 loài cá, 15 loài lưỡng cư, 20 loài bò sát và 123 loài chim.

- Nhiều sản phẩm từ ĐNN của VQGLGXM hiện đang được người dân khai thác; một số sản phẩm quan trong như: lá mật cật, cây thuốc, dầu chai, đưng, nhiều loài cá, tôm, cua, bò sát, ếch nhái và chim; các vùng bàu, trảng được dùng làm nơi chăn thả gia súc; nhiều vùng ĐNN bị biến đổi thành đất trồng trọt.

- Các mối đe dọa chủ yếu đến ĐNN của VQGLGXM: tình trạng khô cạn các vùng ĐNN; nguy cơ ô nhiễm nguồn nước; sự khai thác quá mức một số loại tài nguyên; xáo trộn môi trường gây ra do chăn thả gia súc; sự xâm lấn của một số loài cỏ dại môi trường; tình trạng lấn chiếm, biến đổi ĐNN thành đất nông nghiệp.

- Khó khăn trong quản lý ĐNN của VQGLGXM: thiếu thốn nhân lực và hạn chế trong trình độ, chuyên môn liên quan đến quản lý ĐNN; tình trạng khai thác trái phép của người Campuchia, buôn lậu qua biên giới; triển khai các hoạt động du lịch sinh thái.

- Việc quản lý môi trường tự nhiên của đất ngập nước VQG cần tập trung vào các hướng sau: phục hồi thủy chế; kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; quản lý hiệu quả việc khai thác tài nguyên; tăng cường quản lý các hệ sinh thái ĐNN trọng yếu; giám sát và can thiệp sớm sự xâm lấn của các loài sinh vật ngoại lai; xây dựng phương án đầu tư, khai thác tiềm năng du lịch sinh thái (gia tăng thu nhập và thực hiện chức năng giáo dục môi trường của vườn quốc gia.

- Kiến nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo: đánh giá chức năng ĐNN (việc đánh giá sẽ cung cấp những thông tin giúp hiểu biết sâu hơn về vai trò sinh môi của ĐNN trong mối liên hệ với các hệ sinh thái khác, giúp hiểu rõ hơn về giá trị của hệ sinh thái ĐNN); nghiên cứu về tình trạng khô và của lửa rừng đến hệ sinh thái ĐNN của VQGLGXM.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 216/QĐ-UBND ngày 02/10/2006. Kết quả đề tài là cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện các chương trình bảo tồn và phát triển:

+ Nâng cao nhận thức về giá trị đa dạng sinh học, đào tạo cơ bản cho cán bộ, nhân viên VQG, cán bộ địa phương, chiến sĩ biên phòng trong công tác quản lý và nghiên cứu.

+ Tư liệu chính thức làm sách, phim ảnh, ấn phẩm, tờ rơi,... phục vụ tuyên truyền giáo dục môi trường cho hơn 3.000 lượt học sinh, trên 1.000 hộ dân và 300 cán bộ, chiến sĩ biên phòng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:

Đề tài về lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ "Điều tra, đánh giá tiềm năng tài nguyên nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu chung của Đề tài này là điều tra đánh giá tiềm năng, chất lượng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh; Đề xuất những giải pháp, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh.

Đề tài thứ 2 về lĩnh vực khoa học nông nghệp "Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm từ thịt bò của tỉnh Tây Ninh."  Với mục tiêu chung là góp phần nâng cao giá trị các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Duy trì  danh tiếng sản phẩm từ con bò của tỉnh và nâng cao đời sống người dân vùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Bên cạnh đó, đề tài còn xây dựng quy trình chăn nuôi, sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xác định các tiêu chí và phương pháp chứng nhận của các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xây dựng hệ thống tổ chức, phương tiện, điều kiện để quản lý và khai thác nhãn hiệu chứng nhận./.

 

                                                                                              Ngọc Hà

22/12/2018 8:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018

Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.

Theo nội dung Quyết định, toàn tỉnh có tất cả 91 sáng kiến được đề xuất công nhận sáng kiến cấp tỉnh. Sau khi được hội đồng sáng kiến cấp tỉnh (gọi tắt là Hội đồng) xem xét, đánh giá và đưa ra kết quả đánh giá gồm: 01 sáng kiến đạt loại A (Xuất sắc), 83 sáng kiến đạt loại B (Khá), 04 sáng kiến đạt loại C (Trung bình) và 03 sáng kiến không đạt yêu cầu công nhận là sáng kiến cấp tỉnh.

Được biết, sáng kiến duy nhất đạt loại A là về "Tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tổ chức, phối hợp tổ chức thực hiện việc ứng dụng mạng xã hội Zalo trong tiếp nhận phản ánh kiến nghị và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh". Đây là sáng kiến được đánh giá cao và đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Xem danh sách công nhận sáng kiến tại đây. Cong nhan SKCT 2018_Danh sach.doc

                                                                                                     Ngọc Hà

10/05/2019 3:00 CHĐã ban hànhTin loại 4
Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây NinhNghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Minh Trọng Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2000 - 2002 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 717,28 triệu đồng (hỗ trợ kinh phí) Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

- Đối với cấp huyện, thị: nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975- 1995) nhằm nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn của 20 năm, rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

- Đối với cấp xã: Nêu bật vai trò của Đảng bộ xã lãnh đạo và chỉ đạo phong trào chiến tranh nhân dân trên địa bàn của mình, vượt mọi khó khăn gian khổ hy sinh lập nên những chiến tích anh hùng, đánh bại những âm mưu thủ đoạn của thực dân pháp và đế quốc Mỹ trên địa phương của mình.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các huyện: Thị xã, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Tân Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng và 17 xã anh hùng như: Phường 1, Phường 2 thị xã Tây Ninh; An Thạnh huyện Bến Cầu; Chà Là, Cầu Khởi huyện Dương Minh Châu; Hiệp Thạnh, Thanh Phước huyện Gò Dầu; Lộc Hưng, Gia Lộc huyện Trảng Bàng; Trường Đông, Ninh Thạnh huyện Hòa Thành; Thạnh Bình, Hòa Hiệp huyện Tân Biên; Tân Đông, Tân Hưng huyện Tân Châu; Thanh Điền, Thái Bình huyện Châu Thành.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tài liệu chuẩn xác về lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 1995) và truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975) tỉnh Tây Ninh .

- Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành (1975 - 2000)

+ Đảng bộ và quân dân Châu Thành phấn khởi thấy huyện nhà đã có bước tiến khá dài, đạt được những thành tựu rất quan trọng. Đến năm 2000, lương thực bình quân đầu người đạt 934,2 kg/năm; sản lượng công nghiệp tăng hàng trăm lần so với năm 1976; hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển sôi động và khá nhộn nhịp, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh.

+ Đảng bộ, Mặt trận ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng (Đảng bộ tăng 3,5 lần; Mặt trận, đoàn thể tăng từ 5 đến 10 lần); bộ máy chính quyền ngày càng được củng cố vững chắc.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Trảng Bàng (1975 - 2000).

+ Trảng Bàng được xác định là huyện trọng điểm về sản xuất lương thực của tỉnh Tây Ninh; các lĩnh vực văn hóa xã hội có những bước tiến tích cực. Hệ thống tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể được xây dựng và kiện toàn, chính trị từng bước được ổn định dần và được củng cố vững chắc hơn.

+ Kinh tế nhiều thành phần phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được đẩy mạnh; giao thông từ huyện về xã được nhựa hóa, đường về các ấp được nâng cấp trãi sỏi đỏ, thuận lợi cho đi lại của nhân dân; hệ thống điện lưới quốc gia đã về 100% ấp; sự nghiệp giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng.

+ Đảng bộ huyện Trảng Bàng luôn tăng về số lượng và chất lượng; đến năm 2000, toàn Đảng bộ đã có 2001 đảng viên sinh hoạt ở 49 chi đảng bộ cơ sở. Tất cả các ấp trong huyện điều có chi bộ lãnh đạo.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Bến Cầu (1975 - 2000).

+ Thời kỳ 10 năm sau giải phóng, nhiệm vụ chính là cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, lấy sản xuất lương thực làm nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, khôi phục và phát triển các ngành sản xuất, các hoạt động văn hóa - xã hội để từng bước ổn định đời sống nhân dân.

+ Từ năm 1991 - 2000, giai đoạn này tình hình kinh tế - xã hội của huyện đi vào thế ổn định và phát triển khởi sắc, khá toàn diện. Việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương từng bước phù hợp và có hiệu quả hơn, từ đó đã tạo ra được những bước tiến khá mạnh mẽ trên các lĩnh vực.

- Lịch sử Đảng bộ Thị Xã (1975 - 2000).

+ Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thị Xã cùng với sự nổ lực của nhân dân Thị xã đã trãi qua những bước thăng trầm của từng thời kỳ lịch sử, cố gắng vượt qua nhiều khó khăn thử thách để từng bước đi lên, nhất là từ khi có đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, đã nổ lực phấn đấu để xây dựng Thị xã Tây Ninh thành một Thị xã hoàn chỉnh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Châu (1989 - 2000).

+ Tân Châu là huyện mới thành lập, cho nên việc phát triển cơ sở hạ tầng được Đảng bộ huyện xác định là nhiệm vụ trọng tâm; ưu tiên đầu tư cho phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục đào tạo tác động tích cực vào quá trình ổn định xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Gò Dầu (1975 - 2000).

+ Trên cơ sở phát huy truyền thống cách mạng tốt đẹp của mình và thuận lợi tiềm năng kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cấp trên; toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Gò Dầu vẫn từng bước kiên trì vươn lên, nỗ lực thực hiện và giành được nhiều thành tựu đáng kể trên hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động, tạo tiền đề để huyện bước vào thời kỳ mới tốt đẹp hơn.

+ Về sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2000 tăng 2,1 lần so năm 1997; mạng lưới thủy lợi được hình thành khắp trong toàn huyện với 46,6 km kênh cấp I; 103,8 km kênh cấp II và 150 km kênh cấp III đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho hơn 4.000 ha cây trồng toàn huyện.

+ Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ: ngày càng phát triển, nhất là xay xát và chế biến, các yêu cầu về sửa chữa cơ khí được đáp ứng tốt; cơ sở vật chất hạ tầng của huyện ngày càng được tập trung xây dựng và mở rộng.

+ Các hoạt động văn hóa - xã hội; ngày càng có sự chuyển biến đáng kể; nhu cầu học tập của con em nhân dân được đáp ứng tốt; trang thiết bị ngành Y tế được tăng cường, đội ngũ Y-Bác sĩ được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Biên (1975 - 2000)

+ Tân Biên chỉ thực sự bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế từ những năm 80 của thế kỷ 20; đây là giai đoạn đặc biệt trong bối cảnh những khó khăn chung của đất nước, đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Tân Biên từng bước vượt qua, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, giữ vững an ninh địa bàn và tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng bảo đảm vững chắc biên giới.

+ Từ năm 1990 - 2000, Đảng bộ Tân Biên quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ và tạo đà vững chắc bước vào thế kỷ XXI; tiếp tục củng cố và phát triển huyện nhà ngày càng giàu đẹp.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Dương Minh Châu (1975 - 2000)

+ Về công tác xây dựng Đảng, huyện đã quan tâm tổ chức nhiều đợt học tập chỉnh huấn nghị quyết của Đảng; không ngừng cải tiến tác phong lề lối làm việc, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, gắn liền với tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

+ Đảng bộ huyện Dương Minh Châu xác định; xây dựng Đảng vững mạnh trên cả 3 mặt (chính trị, tư tưởng và tổ chức) là nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi.

+ Quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân của huyện là quá trình phát huy truyền thống yêu nước, tin Đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn lịch sử.

- Truyền thống cách mạng của 17 xã anh hùng: đã trải qua nhiều hy sinh gian khổ, cùng một lúc phải đương đầu trực tiếp với nhiều kẻ thù nguy hiểm. Nhưng nhân dân các xã quyết một lòng theo Đảng, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm đề tài được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy in thành sách gồm: sách lịch sử đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 2000); sách truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975).

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lão nông Lê Văn Dĩ trong vườn rau thơm xen rau rừng phủ lưới che.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tây Ninh lần thứ 10 năm 2016-2017 do Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) chủ trì phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Tuy số lượng có giảm so với Hội thi lần thứ 9, năm 2014-2015 (110 so với 163 giải pháp), nhưng điểm nổi bật là các mô hình/giải pháp đoạt giải thưởng đều thể hiện được tính mới mẻ, sáng tạo, đặc biệt là tính ứng dụng cao, có khả năng giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lao động sản xuất và công tác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành chụp ảnh lưu niệm trong đợt tham quan, khảo sát giải pháp “Máy trồng mì” của cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải.

Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông có 5 giải pháp dự thi. Trong những kỳ hội thi trước đây, số giải pháp dự thi ở lĩnh vực này không nhiều, người dự thi hầu hết là cán bộ thuộc Sở Thông tin - Truyền thông và ngành Giáo dục - Ðào tạo. Cả 2 giải pháp đoạt giải lần này đều là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Giải pháp “Ứng dụng ngôn ngữ lập trình C vào Kit arduino góp phần nâng cao năng lực hợp tác của sinh viên ngành CNTT” của nhóm giảng viên Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh (Trần Phong Vũ, Công Tôn Nữ Lương Thành, Ðặng Văn Tráng); tuy thiết bị Arduino không mới nhưng việc ứng dụng ngôn ngữ lập trình C là sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm “Thiết bị tưới thông minh dành cho hệ thống thuỷ canh ghép động-tĩnh”, tạo hứng thú học tập cho sinh viên và có được sản phẩm thực tế phục vụ giảng dạy.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Dàn bón phân định lượng của Phạm Văn Hùng (Tân Châu).

Lĩnh vực “Công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải” có 35 giải pháp dự thi và tất cả đều là giải pháp công nghiệp (không có xây dựng và giao thông vận tải). Hầu hết các giải pháp là cải tiến, sáng chế thiết bị phục vụ nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong sản xuất và đời sống; nhiều tác giả đoạt giải ở lĩnh vực này đã từng có giải cao ở những kỳ hội thi trước đây như: Phạm Văn Hùng (cơ sở cơ khí Tư Hùng ở Tân Châu), Trần Quốc Hải (cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải- Tân Châu), Trịnh Thành Nghiêm (Công ty cổ phần Cấp thoát nước Tây Ninh)…

Giải pháp “Sáng chế dụng cụ gắn máng che mưa trên cây cao su” của Trần Văn Long- công nhân Nông trường Cao su Tân Biên có chi phí chế tạo thấp, lại vận hành dễ dàng và hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong toàn ngành cao su. Còn giải pháp “Cải tiến xe vận chuyển mủ thành xe chữa cháy trên vườn cao su” của Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi có thể giải quyết được vấn đề phòng cháy chữa cháy (PCCC) tại chỗ của đơn vị, và có khả năng áp dụng rộng rãi trong các nông trường cao su cũng như các vườn cây lớn, các khu vực rừng tự nhiên và khu dân cư.

Trong khi đó, giải pháp “Máy trồng mì” và “Máy thu hoạch khoai mì” của Trần Quốc Hải đã hoàn chỉnh quy trình “cơ giới hoá cây mì” với hiệu quả cao khi thử nghiệm ở Tây Ninh, Bình Phước và Campuchia (máy đã được bán hơn 50 chiếc cho nông dân các tỉnh). Giải pháp “Máy trộn và sấy muối ớt” của Nguyễn Quốc Thái ở xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành lại là một sáng tạo có tính năng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu sản xuất đặc sản muối ớt tôm ở Tây Ninh.

Giải pháp “Dàn bón phân định lượng” của Phạm Văn Hùng (Tân Châu) đáp ứng nhu cầu bón phân cho những cây trồng cách khoảng (cây cao su non, cây ăn quả…) làm giảm thất thoát phân bón, tăng khả năng hấp thụ cho cây trồng (máy đã được bán ra thị trường hơn 30 chiếc).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài và một trong những chiếc xe PCCC từ sáng kiến của ông

 

ĩnh vực vật liệu, hoá chất, năng lượng có 5 giải pháp dự thi. “Xử lý sắt và mangan trong nước ngầm không sử dụng hoá chất” của nhóm tác giả Trịnh Thành Nghiêm, Nguyễn Lan Ðình, Nguyễn Văn Hùng thuộc Công ty cổ phần Cấp thoát nước tỉnh ứng dụng công nghệ của Công ty PERNAM cho 2 trạm cấp nước huyện Bến Cầu và Châu Thành, giúp công ty tiết kiệm được chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cũng như giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình xử lý và vận hành hệ thống với nguồn nước thô là nước ngầm; chất lượng nước sau khi xử lý và cung cấp bảo đảm đạt quy chuẩn nước sinh hoạt.

Nông lâm thuỷ sản, tài nguyên và môi trường là lĩnh vực tập trung nhiều giải pháp nhất (40) với hầu hết các tác giả là nông dân. “Nuôi trồng bon sai trong môi trường nước” là giải pháp dự thi của nhóm tác giả thuộc Hội Sinh vật cảnh Tây Ninh (gồm Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quốc Phương và Trần Hoài Ân) mở ra hướng mới cho người kinh doanh, nuôi trồng sinh vật cảnh, thúc đẩy sự phát triển ngành sinh vật cảnh Tây Ninh.

Còn giải pháp “Trồng rau thơm xen rau rừng phủ lưới che” của tác giả Lê Văn Dĩ- Chủ nhiệm Tổ hợp tác rau rừng VietGAP ấp Lộc Trát, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng đưa ra mô hình kết hợp trồng rau trong lưới che, hạn chế được sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất và chất lượng rau; đặc biệt là thuần dưỡng được rau rừng trên diện tích đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.

Mô hình “Nuôi dơi lấy phân cho hiệu quả kinh tế cao” của Phạm Kim Liên và Lê Thu Thuỷ ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu lại phổ biến quy trình nuôi dơi lấy phân để bán, kết hợp phục vụ sản xuất cây trồng trên diện tích đất nuôi dơi, mang đến hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long tạo tán cho cây- một khâu trong mô hình “Nuôi trồng bonsai trong môi trường nước”.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có 25 giải pháp, được tuyển chọn từ các sáng kiến của các trường trong tỉnh. Giải pháp “Xây dựng cấu trúc đề kiểm tra môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” của tác giả Tạ Xuân Thơ- giáo viên Trường THPT Tây Ninh giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, trong khi “Khảo sát truyện dân gian Tây Ninh” của tác giả Hà Thị Thới - giảng viên Trường CÐSP Tây Ninh, là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện dân gian- nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hội thi lần này, ban tổ chức đã xét chọn 10 giải pháp (trong số 18 giải pháp đoạt giải Nhì và giải Ba) đưa đi tham dự Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2016-2017 (chưa công bố kết quả).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Chị Phạm Kim Liên và mô hình “Nuôi dơi lấy phân” cho hiệu quả kinh tế cao.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật tỉnh Tây Ninh lần này tiếp tục khẳng định đây là nơi hội tụ, phát huy tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy phong trào quần chúng tiến công vào khoa học kỹ thuật. Ðối tượng tham gia khá đa dạng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Ðiều đáng tiếc là Hội thi phát động 6 lĩnh vực nhưng chỉ có 5 lĩnh vực có giải pháp dự thi, còn lại lĩnh vực y dược không có giải pháp nào.

Riêng 2 lĩnh vực: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và vật liệu, hoá chất, năng lượng còn ít giải pháp dự thi (mỗi lĩnh vực chỉ có 5). Và số lượng giải pháp tham gia Hội thi tổng cộng cũng chỉ có 110- chưa tương xứng với tiềm năng trong tỉnh. Còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm việc vận động cán bộ, công nhân tham gia Hội thi.

Hội thi lần này cũng không có giải pháp dự thi từ lực lượng đoàn viên thanh niên. Với ngành Y tế, tuy hằng năm đều có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở, nhưng lại không có giải pháp nào tham gia Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật.

Theo Báo Tây Ninh Online

05/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
Viết lịch sử Trường Chính trị tỉnh Tây NinhViết lịch sử Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Võ Hoàng Khải Cơ quan chủ trì: Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện là: 136,05 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

 

 

MỤC TIÊU

-     Ghi lại những chủ trương, sự chỉ đạo của tỉnh Đảng bộ Tây Ninh cũng như những thành tựu, các chặng đường phấn đấu trưởng thành và phát triển của trường trong các năm từ 1948 - 2008; ghi nhận những cống hiến của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên của trường Chính trị từ trước đến nay.

-     Ghi lại và tập hợp hình ảnh các vị lãnh đạo của trường qua các thời kỳ để lưu giữ làm tư liệu, tài liệu giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU        

-     Thu thập, tập hợp các tài liệu, sách, tạp chí viết về lịch sử đảng, lịch sử các ngành cơ quan, các cuốn biên niên lịch sử. Các tư liệu hình ảnh về phong trào cách mạng của địa phương, hình ảnh các hoạt động của Trường trong từng thời kỳ.

-     Khai thác các tài liệu đã sưu tầm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ghi nhận bối cảnh lịch sử đến những yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị của từng giai đoạn

-     Sự hình thành trường Đảng tỉnh Tây Ninh (1947 - 1954)

+ Trường Đảng tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 1954 - 1959: để nhanh chóng triển khai đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam, Tỉnh ủy Tây Ninh đã chỉ đạo khẩn trương thành lập “Đoàn cán bộ lưu huấn tỉnh Tây Ninh”, gồm nhiều cán bộ ở những cương vị công tác khác nhau tập hợp lại.

+ Từ tháng 3/1957 - 12/7/1957, Đoàn đã mở liên tiếp 4 lớp, thời gian học của mỗi lớp ít nhất là 7 ngày, nhiều nhất là 15 ngày, lớp ít nhất có 15 học viên, lớp nhiều nhất có 25 học viên; trong hai năm 1958 - 1959, có 02 lớp đáng chú ý (lớp chi ủy viên tháng 8/1958 và 10/1959), nội dung chủ yếu của lớp học này: đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam, năm bước công tác cách mạng, học tập lại điều lệ Đảng.

-     Trường Đảng tỉnh Tây Ninh thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1954 - 1975)

+ Giai đoạn chống “chiến tranh đặc biệt” từ năm 1960 đến giữa năm 1965: trường Đảng đã mở 03 lớp tại rừng Bời Lời và rừng Trảng Cỏ; hai lớp đầu do đồng chí Nguyễn Văn Tốt phụ trách, lớp thứ 03 mở trong khi hai tỉnh Tây Ninh và Thủ Dầu Một sát nhập; trong hai năm 1961 - 1962, trường đã mở hàng chục lớp Bí thư chi bộ tại Chót Lò Quyên, Vịnh Ông Cù và Thâm Thái, các lớp này mở trong 45 ngày, tài liệu học tập lúc bấy giờ in bột. Ngoài ra, nhà trường còn mở hai lớp tổ trưởng Đảng, mỗi lớp 15 ngày, riêng lớp sau có tới 130 học viên; trong hai năm 1963 - 1964, trường Đảng tiếp tục mở hàng chục lớp Bí thư chi bộ, mỗi lớp trên dưới 100 học viên; năm 1965, nhịp độ mở lớp sôi nổi hơn những năm trước, đã mở liên tiếp năm lớp, có lớp tới 120 học viên.

+ Giai đoạn chống “chiến tranh cục bộ” của Đế quốc Mỹ, từ giữa năm 1965-1968: để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà trường, Tỉnh ủy đưa đồng chí Nguyễn văn Vạn - phó Ban Tuyên huấn đến vừa làm cố vấn, vừa tham gia giảng bài; trường Đảng Tây Ninh vẫn duy trì được những lớp bồi dưỡng ngắn hạn cho các đồng chí trong Đảng ủy và chi ủy xã.

+ Giai đoạn chống “Việt Nam hóa chiến tranh” từ năm (1969 - 27/01/1973): trường Đảng được lệnh dời về Gò Bàu, gần văn phòng Ban Tuyên huấn; tại đây, trường mở liên tiếp nhiều lớp, mỗi lớp trên 70 học viên. Trong thời gian này, trường đã đào tạo bồi dưỡng 220 cán bộ cơ sở, tổ chức học tập hai bài “Lãnh đạo công tác vùng ven” và “phát động quần chúng ở các ấp chiến lược”.

+ Giai đoạn sau Hiệp định Pa-ri đến ngày 30/4/1975: để gấp rút đào tạo bồi dưỡng hàng loạt cán bộ cơ sở đủ sức đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, Tỉnh ủy đã trực tiếp gửi thư chiêu sinh cho trường Đảng. Thực hiện Nghị quyết của Trung ương đảng về: “khẩn trương xây dựng và chấn chỉnh tổ chức, cải tiến lề lối làm việc từ Trung ương tới tận cơ sở”, trường Đảng một mặt đã đi sâu nghiên cứu thực hiện trong nội bộ nhà trường, mặt khác đã bổ sung nội dung vào chương trình giảng dạy.

- Trường Đảng tỉnh Tây Ninh từ sau ngày 30-4-1975 đến 1994.

+ Tháng 9/1975, trường Đảng rời khỏi khu vực UBND tỉnh chuyển xuống trường kỹ thuật Công nghiệp (nay là trường Trung cấp Nghề Tây Ninh); tại đây, cơ sở vật chất lúc bấy giờ tương đối khang trang hơn, tiếp tục mở một số lớp tập huấn khác; về bộ máy của trường, ngoài ban lãnh đạo có 02 đồng chí còn có 03 phòng chức năng, chưa có các khoa, đội ngũ giáo viên còn thiếu nghiêm trọng.

+ Năm 1986 - 1994, Tỉnh ủy quyết định dời trường về khu an dưỡng của tỉnh tại xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành (địa điểm trường Chính trị Tây Ninh ngày nay); về tổ chức bộ máy và lãnh đạo đã thay đổi và được cơ cấu tương đối hoàn chỉnh; đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản chính quy hơn; nhân sự các khoa, phòng của trường được củng cố.

-     Trường chính trị tỉnh Tây Ninh (1994 - 2009).

+ Giai đoạn từ tháng 9/1994 - 1999: Theo Quyết định số 88-QĐ/TW và Quyết định số 57/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh có vị trí tương đương như một Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh; quyết định trên đã xác lập lại địa vị pháp lý cho trường, kiện toàn lại bộ máy tổ chức, nhân sự và công tác đào tạo, bồi dưỡng trong tình hình mới.

+ Giai đoạn từ năm 2000 - 2009: Giai đoạn này trường Chính trị tỉnh Tây Ninh có nhiều thuận lợi trong tổ chức và hoạt động chuyên môn. Ngoài Quyết định 54-QĐ/TW về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, Chính phủ cũng ban hành Quyết định 874/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước. Đầu năm 2009, thực hiện Quyết định số: 184-QĐ/TW ngày 03 tháng 9 năm 2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức bộ máy và tư cách pháp nhân của các trường Chính trị đều được chỉnh lại.

-     Với những phấn đấu và kết quả đạt được toàn diện trên các phương diện (đặc biệt là từ năm 1986 đến nay) đã được cấp trên ghi nhận: từ năm 2001 đến 2006 liên tục được nhận Bằng khen của UBND tỉnh, riêng năm 2003 trường được nhận Huân chương Lao động Hạng 3 của Chủ tịch nước. Tổ chức Đảng từ một chi bộ đã xây dựng thành Đảng bộ có 35 đảng viên, có 1/3 là đội ngũ trẻ, được đào tạo hoàn chỉnh.

-     Nhóm nghiên cứu đã hoàn thành việc biên soạn lịch sử chính trị Tây Ninh từ năm 1947 - 2009 (báo cáo tổng thuật các biên bản phỏng vấn nhân chứng, báo cáo tham luận ghi trong tập kỷ yếu hội thảo, báo cáo tổng hợp, bản thảo cuốn lịch sử Trường chính trị tỉnh Tây Ninh). Qua đó tái hiện được bức tranh tổng thể về hoạt động, vai trò của trường phục vụ 2 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2123/QĐ-UBND ngày 18/10/2011. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Trường Chính trị tỉnh làm tư liệu, tài liệu giảng dạy và giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017
Ngày 21 tháng 11 năm 2016 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017 với 05 Đề tài thuộc 03 Lĩnh vực về: Khoa học Nông nghiệp; Khoa học kỹ thuật và Công nghệ; Khoa học Y, dược cụ thể:

1. Lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp:

- Đề tài: Ứng dụng công nghệ tạo viên không nhiệt để sản xuất phân bón NPK kết hợp silica từ tro trấu

2. Lĩnh vực Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ:

- Đề tài: Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài quý hiếm Gà lôi hông tía (LopPhura diardi) ở Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và đề xuất các giải pháp thích ứng

3. Lĩnh vực Khoa học Y, dược

- Đề tài: Thực trạng và giải pháp quản lý tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Mô hình bệnh tật ở các bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh

Quyết định phê duyệt danh mục:  Tải về 2969.PDF


Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

25/11/2016 4:00 CHĐã ban hành
Thực trạng và giải pháp phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Tây NinhThực trạng và giải pháp phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Võ Hoàng Khải Cơ quan chủ trì: Trường Chính Trị Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 205,45 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

            MỤC TIÊU

-  Đánh giá thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong 10 năm (1998 - 2008).

-  Đề xuất và áp dụng những giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tình hình mới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Điều tra xã hội học (XHH) các điểm điển hình.

-  Thu thập số liệu ở các huyện, thị xã để xây dựng số liệu thống kê.

-  Xử lý các phiếu điều tra XHH bằng phần mềm SPSS.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Cơ sở lý luận về quyền dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn:

+ Đảng ta xác định: “để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước” và đề ra nhiệm vụ trọng tâm: “khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở”.

+ Trong điều kiện hiện nay, cấp cơ sở là mắt xích yếu nhất trong hệ thống chính trị, hệ thống Nhà nước ta hiện nay. Nhiều vấn đề nổi cộm, tiêu cực đang tiềm tàng, những nơi nổ ra “điểm nóng” cũng xuất phát từ cơ sở. Ở cơ sở dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng, nạn tham ô, tham nhũng, ức hiếp nhân dân diễn ra tràn lan kéo dài mà chưa có quy phạm pháp luật cụ thể, chưa được quan tâm đúng mức có phần lỏng lẻo và không sâu sắc.

-  Cơ sở pháp lý của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn:

+ Thực hiện chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị; UBTVQH ban hành Nghị quyết số 45/1998/TVQH10 ngày 26/02/1998; Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”.

+ Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy chế của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư.

-  Thực trạng triển khai và thực hiện quy chế dân chủ ở xã:

+ Tổng số 436 phiếu phân tích số 1 (phiếu dùng cho cán bộ chủ chốt ở xã, phường, thị trấn), kết quả thực hiện quy chế dân chủ của chính quyền địa phương đưa ra vấn đề có liên quan đến quyền lợi của nhân dân: có 93,8% ý kiến người được hỏi về chủ trương và mức độ đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi tại cơ sở hạ tầng; xây dựng quy ước cộng đồng dân cư có 91,1%; các công việc tự quản khác là 93,3% đều xác nhận đã làm tốt công việc này.

+ Tổng số 403 phiếu phân tích số 2 (phiếu dùng cho trưởng thôn, bí thư chi bộ, cán bộ mặt trận ấp, khu phố), kết quả triển khai quy chế dân chủ: số được tiếp nhận học tập Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (chiếm 72,9%); Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 07/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (chiếm 82,5%); Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 20/4/2007, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (chiếm 83,8%); số nơi họp dân đạt yêu cầu theo quy định của quy chế đạt 71,6%.

+ Tổng số 409 phiếu phân tích số 3 (phiếu điều tra hộ dân cư) về tình hình nhân dân tiếp nhận quy chế dân chủ, người được hỏi cho biết: người được phổ biến và biết về quy chế này chiếm 86,6%; người chưa được biết chiếm 9,8%; về việc họp dân, số người tham dự họp 1 lần/năm là 4,4%, 2 lần là 23%, 3 lần là 66,3%, 4 lần là 2,4%; số người thường xuyên dự họp chiếm 9,7%.

-  Qua thực hiện quy chế dân chủ, đại bộ phận nhận thấy quyền và lợi ích của mình, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện trên thực tế. Có 95/95 xã, phường, thị trấn trong tỉnh tổ chức triển khai và có chương trình, kế hoạch thực hiện ở cơ sở khá tốt.

-  Tuy nhiên, ở một số cấp xã vẫn còn hạn chế và bộc lộ những khiếm khuyết cần sửa đổi bổ sung và hoàn thiện: tham nhũng, lãng phí chưa được xử lý một cách triệt để, gây ảnh hưởng nhiều đến thực thi dân chủ; nhiều địa phương hằng năm không có tổ chức kiểm tra, kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện quy ước.

-  Giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tình hình mới: đẩy mạnh việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ xã, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy xã, đôn đốc việc thực hiện quy chế dân chủ; tăng cường việc đối thoại hai chiều và nhiều chiều giữa bộ máy quản lý với người dân; thực hiện quy chế dân chủ gắn với công tác cải cách hành chính theo mô hình một cửa; 100% công việc liên quan đến dân đều được công khai niêm yết quy trình, thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý hành chính.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1130/QĐ-UBND, ngày 02/6/2011. Kết quả đề tài được tổ chức triển khai trong năm 2012 cho 8/9 huyện, thị xã trong tỉnh với số lượng 75 học viên/lớp/ huyện.

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây NinhTác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây Ninh
Ngày 16/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây Ninh” do Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh chủ trì thực hiện.

Hoidong.jpg

Hội đồng nghiệm thu đề tài có sự tham dự của bà Phạm Thị Lan Hương – GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng; ông Huỳnh Văn Nghiệp - PCT Liên hiệp các Hội KH&KT Tây Ninh; PGS.TS Ngô Minh Oanh – Viện nghiên cứu giáo dục (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM); TS. Ngô Xuân Điệp – Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM tham gia phản biện cùng các thành viên đang công tác tại các Sở, ngành có liên quan.

Với nội dung nghiên cứu những tác động của trò chơi trực tuyến game online đến sự phát triển nhân cách của học sinh, từ đó đề xuất một số giải pháp hỗ trợ gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội hướng dẫn học sinh sử dụng game online một cách có hiệu quả.

Hội đồng nghiệm thu đánh giá: Đề tài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; phát triển nhân các của học sinh phù hợp với tiêu chí của xã hội và hạn chế các tác động tiêu cực của việc chơi game online không lành mạnh trong học sinh THPT. Đồng thời, Hội đồng đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài bổ sung và hoàn chỉnh báo cáo theo góp ý của các thành viên Hội đồng trước khi trình phê duyệt công nhận kết quả.

Hội đồng nghiệm thu thống nhất đề tài đạt loại: Khá./.

Phòng TT – SHTT

22/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Công  nhận sáng kiến cấp tỉnhCông  nhận sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Theo đó, có 4 đề tài được xét đặc cách và 43 sáng kiến được công nhận (03 sáng kiến được xếp loại A, 33 sáng kiến được xếp loại B và 07 sáng kiến được xếp loại C). Đây cũng là điều kiện để xét công nhận đạt danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh".

Danh sách công nhận sáng kiến kèm theodanhsachcongnhansangkienct.rar

                                                                                        KGVX

04/04/2017 8:00 SAĐã ban hành
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018

Ngày 10/10/2017, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 2344/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018 

Quyết định phê duyệt danh mục:  2344.pdf

10/10/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015
Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

Sở Khoa học và công nghệ thông báo 

Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó

- Số sáng kiến cấp cơ sở đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 466/599, với 01 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), 239 sáng kiến đạt loại B (khá), và 226 sáng kiến đạt loại C (trung bình).

- Số sáng kiến cấp cơ sở không đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 133/599.

(Danh sách kèm theo) SO KH_CN GUI SAP XEP LAI DANH SACH (27-11-2018).doc

 

                                                                                              Ngọc Hà

11/12/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018
Nhằm xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) năm 2018 phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giải quyết những vấn đề cấp thiết của ngành và địa phương, nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn. Sở KH&Cn Tây Ninh xin thông báo đến các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN và các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đề xuất nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh thực hiện năm 2018.

Toàn văn thông báo:  Tải về TB-De xuat DTDA 2018( trinhky-13.12)_Signed.pdf

Biểu mẫu:  Tải về BM de xuat DA MN NT 2018.doc


​Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

16/02/2017 4:00 CHĐã ban hành
Nâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ caoNâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…


 

Các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt đã cho hiệu quả cao

Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…

 Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có 29 khu nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xây dựng và đưa vào quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố, qua đó đã hình thành một số mô hình phát triển NNCNC, làm tiền đề cho việc phát triển các vùng NNCNC như mô hình sản xuất rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại TP.HCM, Bắc Ninh, Lâm Đồng; mô hình sản xuất nấm quy mô trang trại tại Vĩnh Phúc…. Ngoài ra, đã hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất, chế biến các sản phẩm từ sữa tại Hà Nội, Nghệ An, TP.HCM; vùng trồng chè theo công nghệ của Đài Loan tại Thái Nguyên, Lâm Đồng…. Cùng với đó là hàng loạt công nghệ mới như tạo giống, nhà kính, nhà lưới, vườn ươm, kho mát bảo quản, đóng gói rau, hoa trình độ cao với phương thức, kỹ thuật và quy trình sản xuất đồng bộ giúp nâng cao năng suất, ổn định giá thành và chất lượng sản phẩm; giá trị sản xuất đạt 500 triệu - 1 tỷ đồng/ha.…

 Cụ thể như tại TP.HCM, Công ty liên doanh Hạt giống Đông Tây đã đầu tư được trại sản xuất hạt giống rau F1 đạt tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Còn tại tỉnh Lâm Đồng, đến hết năm 2013 đã có gần 35 nghìn ha đất sản xuất NNCNC với giá trị sản xuất rau cao cấp đạt bình quân 400 triệu đồng/ha; hoa cao cấp đạt 800 triệu - 1 tỷ đồng/ha, đặc biệt là các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt cho hiệu quả cao. Tại tỉnh Sơn La, dự án khu NNCNC cũng đã được triển khai xây dựng tại huyện Mộc Châu với quy mô 200ha, áp dụng các công nghệ tiên tiến như trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh; trồng một số loại rau, hoa nhập ngoại và canh tác trên đất có phủ màng hoặc trên giá thể không đất; công nghệ nuôi cấy mô cho rau, hoa lily, hoa lan. Hàng loạt các quy trình như sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, thiết bị tưới phun, tưới nhỏ giọt, điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, chất dinh dưỡng, nước… đều đã được đầu tư đồng bộ, tự động hóa.…

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp nông thôn - Ban Kinh tế Trung ương nhận định: Những kết quả nghiên cứu, đầu tư ứng dụng công nghệ cao đã có đóng góp quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng nông nghiệp cho Việt Nam trong một vài năm qua. Tuy nhiên, hoạt động của các khu NNCNC còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung; cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao. “Bên cạnh đó, việc lựa chọn mô hình, sản phẩm, công nghệ để sản xuất chưa phù hợp; chi phí vận hành quá cao dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Một số khu NNCNC ở Hải Phòng, Hà Nội… được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài nhưng chưa được thành công như mong muốn” - ông Tiến nói.

Do vậy, cùng với việc tổ chức bài bản, khoa học để sản xuất NNCNC từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tới đây, các địa phương, doanh nghiệp cần xem xét đầu tư hợp lý để không chỉ ứng dụng được công nghệ tiên tiến vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp của địa phương mà còn có thể phát huy được những thế mạnh về tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên sẵn có.

Một vấn đề khác được đặt ra là bảo vệ bản quyền giống trong quá trình triển khai NNCNC, bởi theo ông Nguyễn Văn Bảo - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Agrivina: Mặc dù Việt Nam đã là thành viên của Hiệp hội Quốc tế bảo vệ bản quyền giống cây trồng mới (UPOV) từ năm 2006, nhưng đến nay việc bảo vệ bản quyền vẫn không được thực hiện nghiêm túc. Ông Bảo cho biết: Hiện một số doanh nghiệp và nhất là các hộ nông dân tại tỉnh Lâm Đồng sử dụng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc, xuất xứ; tùy tiện nhân giống dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, đồng thời làm ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, lai tạo và sản xuất các loại giống rau, hoa mới của doanh nghiệp.…

 Trong thời gian tới, phát triển NNCNC cần tập trung vào các mục tiêu trọng tâm như: Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi; phát triển số lượng doanh nghiệp và cung ứng dịch vụ NNCNC, đặc biệt là tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp NNCNC.

Mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015, theo ông Nguyễn Tấn Hinh - Vụ phó Vụ Khoa học công nghệ và môi trường - Bộ NN&PTNT, là sẽ từng bước xây dựng và hình thành cho được nền NNCNC, trong đó, trọng tâm là phát triển số doanh nghiệp NNCNC và vùng sản xuất, phấn đấu đến năm 2015, mỗi tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm sẽ xây dựng được từ 3-5 doanh nghiệp, 2-3 vùng sản xuất NNCNC, qua đó từng bước sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; nâng tỷ trọng giá trị sản xuất NNCNC chiếm từ 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước.

                                                                                                 Báo Công Thương

05/08/2014 5:00 CHĐã ban hành
Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuậtGiám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài bên công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Tại Ðại hội Công đoàn Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017- 2022, có một cá nhân được Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng lao động sáng tạo trong phong trào thi đua yêu nước năm 2016. 

Trước đó, ông đã được Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tặng Bằng khen “Ðã có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến, sáng tạo, cải tiến khoa học kỹ thuật trong đơn vị góp phần xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ngày càng vững mạnh”. Người được vinh dự đón nhận Bằng lao động sáng tạo và bằng khen vừa nêu là kỹ sư Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi (thuộc Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh). 

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

“Biến” xe chở mủ thành xe chữa cháy

“Phương án lắp đặt đơn giản, chi phí thấp, tính ứng phó kịp thời tại chỗ, tính phổ dụng xã hội hoá cao, nâng cao hiệu quả phòng - chữa cháy” là kết quả ứng dụng công trình của kỹ sư Tài. Ông cho biết, Nông trường cao su Bến Củi quản lý 2.270 ha cao su. Mùa khô cũng là mùa cao su thay lá. Toàn bộ lá trên cây rụng xuống đất thành một lớp khá dày, rất dễ cháy.

Ngoài ra, hằng năm, nông trường thanh lý từ 150 ha đến 200 ha cây cao su trong mùa khô; các cành lá sau khi cưa cắt để lại rất dễ cháy và lây lan đến các vườn cây xung quanh. Thực tế tại nông trường đã xảy ra hai vụ cháy trong quá trình thanh lý vườn cây. Vào mùa khô, nông trường đều lập kế hoạch và phương án phòng cháy, chữa cháy (PCCC), huy động nhiều công nhân cho công tác PCCC, nhưng phương tiện chữa cháy rất thô sơ.

Trước thực trạng đó, kỹ sư Tài băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi giải pháp chữa cháy tại chỗ đạt hiệu quả cao. Từ phương tiện sẵn có của nông trường là xe vận chuyển mủ có 3 tank (3 bồn chứa mủ), máy bơm dùng bơm mủ lên tank, kỹ sư Tài nảy sinh ý tưởng chuyển công năng sử dụng từ bồn vận chuyển mủ thành bồn chứa nước và máy bơm mủ thành máy tạo áp lực cho vòi rồng thực hiện việc chữa cháy. Khi mùa khai thác mủ kết thúc, cũng là mùa cao su bắt đầu thay lá, cây ngưng cạo, khi đó bồn chứa mủ, máy bơm mủ được dùng cho xe PCCC.

Kết quả thử nghiệm cho thấy, tất cả các phương tiện được lắp đặt hệ thống chữa cháy do ông Tài thiết kế đều có khả năng di chuyển, tiếp cận điểm cháy với phạm vi hoạt động không hạn chế. Ðộ phun xa của đầu rồng phụ thuộc vào công suất của máy bơm (máy bơm 5 CV phun xa 30m, máy bơm 9 CV phun xa 50m). Thời gian hoạt động phun chữa cháy của mỗi xe chứa 3 bồn nước là 30 phút. Ðể có nguồn nước cung cấp cho công tác chữa cháy, nông trường bố trí các giếng khoan phân bố đều trong vườn cây cao su.

Sau khi thử nghiệm, xe chữa cháy tự chế của kỹ sư Tài đáp ứng đầy đủ tính năng theo yêu cầu của cơ quan PCCC. Ðặc biệt là tổng chi phí cải tiến xe chở mủ thành xe PCCC chỉ 9,5 triệu đồng, giảm chi phí đầu tư trang bị xe chữa cháy chuyên dùng đến 800 triệu đồng/xe. Có xe chữa cháy này, nông trường tiết kiệm rất đáng kể trong việc bố trí công nhân trực chống cháy cho toàn bộ diện tích vườn cây.

Theo kỹ sư Tài, không chỉ đối với vườn cao su, mà đối với vùng trồng mía, từ phương tiện máy móc sẵn có, các chủ trang trại có thể tự lắp đặt máy chữa cháy theo thiết kế của ông. Ðối với các khu bảo tồn, rừng phòng hộ, khu di tích, kể cả khu dân cư đô thị cũng có thể trang bị máy chữa cháy này.

“Cây” sáng kiến của ngành cao su

Trước đó, ông Tài đã có nhiều công trình sáng kiến cải tiến kỹ thuật khác, đáng lưu ý như: kỹ thuật tạo tán vườn cây kiến thiết cơ bản; công cụ xử lý cây nghiêng trên vườn cây kinh doanh; công cụ khai thác vườn cây tận thu; sử dụng máy bón phân thay thế bón phân thủ công trên vườn cây kiến thiết cơ bản.

Về kỹ thuật tạo tán, kỹ sư Tài cho biết, nhằm khống chế ưu thế về ngọn của vườn cây kiến thiết cơ bản dòng vô tính (phân cành cao dễ ngã đổ), qua quá trình quản lý, nghiên cứu, tìm tòi phân tích đặc tính hình thái của cây cao su, vào năm 2006, ông đưa ra phương pháp cắt ngọn tạo tán cho giai đoạn kiến thiết cơ bản đối với vườn cây năm thứ 2, thứ 3.

Nhờ có kỹ thuật tạo tán, cây phân cành hợp lý, thân cây phát triển đồng đều, thúc đẩy độ tăng nhanh quành tròn thân cây, bảo đảm mật độ vườn cây, hạn chế gãy đổ do gió. Cũng từ đó, người trồng cao su rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản của cây từ 6 tháng đến một năm (so với trước khi chưa có kỹ thuật tạo tán). Công trình này đã được áp dụng cho toàn ngành cao su.

Theo kỹ sư Tài, đây là công trình vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật cao, để nâng cao chất lượng vườn cây, tạo tiềm năng năng suất cho thời kỳ kinh doanh.

Hằng năm vào mùa mưa bão, giông lốc, nỗi lo vườn cây cao su kinh doanh bị gãy đổ luôn là vấn đề nhức nhối của người trồng cao su, nhất là trên dòng vô tính RRIV4. Ðể xử lý cây nghiêng, có nguy cơ gãy đổ trên vườn cây nhóm 1 đang khai thác, trước kia, nông trường cho người leo lên cây chặt tỉa nhánh. Công việc này không bảo đảm an toàn lao động, năng suất thấp, hiệu quả không cao (không mé được những nhánh trên ngọn cao). Sau đó, nông trường dùng xe chuyên dụng đưa người và máy cưa lên cao để xử lý; cách làm này quá tốn kém và năng suất cũng thấp.

Từ thực trạng đó, năm 2012, kỹ sư Tài nghĩ ra cách dùng lưỡi câu liêm nối cán dài để tỉa cành cây nghiêng. Cách làm này bảo đảm an toàn lao động, vừa nâng cao năng suất mà chi phí rất thấp, dễ thực hiện, hiệu quả cao. Phương pháp này được đưa sang Lào áp dụng xử lý hàng ngàn ha cao su bị gió lốc nghiêng ngả.

Trước đây, để khai thác tận thu trên vườn cây cao su chuẩn bị thanh lý, công nhân phải bắc thang (hoặc ghế cao) để cạo, vừa không an toàn mà năng suất thấp. Sau đó, nông trường cải tiến bước đầu là dùng cây tầm vông dài nối làm cán dao cạo.

Cách làm này cũng có hiệu quả, nhưng không linh hoạt theo chiều cao cạo miệng, hạn chế năng suất lao động và cũng không khai thác hết tiềm năng năng suất vườn cây chuẩn bị thanh lý. Năm 2010, kỹ sư Tài tạo ra dụng cụ khai thác vườn cây tận thu tiên tiến và hiệu quả hơn. Ðó là dùng cán dao kim loại có 3 đoạn nối nhau bằng chốt khoá, để người công nhân linh hoạt khai thác ở nhiều độ cao khác nhau.

Ðồng thời, cán dao 3 đoạn này cũng tương thích với 3 công dụng khác nhau: lắp đặt vào lưỡi dao cạo; lắp đặt vào dụng cụ bấm máng và dụng cụ bôi kích thích. Nhờ sử dụng công cụ trên, công nhân khai thác hết tiềm năng năng suất cây chuẩn bị thanh lý. Cụ thể, trước đây chỉ khai thác được 1,6 tấn/ha, nay đã nâng lên được 2 tấn/ha. Bộ công cụ này nay đã được áp dụng rộng rãi trong ngành cao su.

 Ngày trước, việc bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản theo phương pháp thủ công. Do vườn cây rộng lớn, nên hằng năm đến mùa vụ bón phân đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn nhân lực. Cách bón thủ công còn nhiều hạn chế về kỹ thuật, năng suất lao động thấp, cần nhiều lao động và tính hại cao (do công nhân tiếp xúc trực tiếp với phân bón).

Do vậy, kỹ sư Tài đã nỗ lực cải tiến thành công máy bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản và đưa vào sử dụng. Ðây là máy tự hành (tự trộn, tự rạch hàng, tự bón, tự lấp đất), với những ưu điểm thấy rõ: năng suất cao (20 ha/ngày/máy), đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật, giảm độc hại, giảm chi phí thuê công nhân (một máy thay thế 20 công nhân bón phân thủ công) và dễ quản lý, kiểm soát.

Qua nhiều năm trải nghiệm trong ngành, kỹ sư Nguyễn Văn Tài đã tự nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi để có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây, giảm thâm dụng lao động, ứng phó hiệu quả với tình hình giá cao su giảm sâu và khủng hoảng thiếu lao động như hiện nay.

Kỹ sư Tài tâm sự: “Khi một sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được tạo ra mà tác giả cố giữ bí mật chỉ để làm lợi riêng cho mình thì hiệu quả mang lại sẽ hạn chế. Do đó, sáng kiến chỉ có giá trị khi được nhân rộng”. Chính vì vậy, ông rất vui khi những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của mình được phổ biến khắp nơi.

Theo Báo Tây Ninh Online

11/09/2017 9:00 SAĐã ban hành
Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014
Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ được phê duyệt năm 2014

 Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh thông báo 

Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu bảo tồn các loài linh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây NinhNghiên cứu bảo tồn các loài linh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh
Ngày 27/03/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề tài "Nghiên cứu bảo tồn các loài linh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh" do KS. Tạ Ngọc Dân – Ban Quản lý Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát làm chủ nhiệm.

Tham dự phiên họp Hội đồng có ông Nguyễn Minh Hiệp, PGĐ Sở KH&CN Tây Ninh - Chủ tịch Hội đồng; PGS.TS Hoàng Đức Huy – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM và TS. Nguyễn Thị Phương Thảo – Viện Sinh học Nhiệt đới TP.HCM tham gia phản biện, cùng với các thành viên khác đang công tác tại các đơn vị có liên quan.

Với mục tiêu nghiên cứu xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài sinh trưởng ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát.

Đề tài được Hội đồng xét duyệt thống nhất triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị cơ quan chủ trì hoàn chỉnh lại các nội dung theo góp ý tại cuộc họp và gửi về Sở KH&CN để tiến hành thủ tục theo quy định.

Sở KH & CN

31/03/2015 10:00 SAĐã ban hành
Giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây NinhGiải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh
Ngày 10/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh” do Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trì thực hiện.

Hội đồng nghiệm thu đề tài có sự tham dự của bà Phạm Thị Lan Hương – GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng; bà Phan Thị Điệp – PCT Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, PCT Hội đồng; TS. Nguyễn Ngọc Dũng - Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Tây Ninh và CN Dương Thị Thu Hiền – CT Liên hiệp các Hội KH&KT Tây Ninh tham gia phản biện cùng các thành viên đang công tác tại các Sở, ngành có liên quan.

Với nội dung nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) và đề xuất các giải pháp để tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại Tây Ninh.  Giúp cho cấp ủy, chính quyền các cấp nhận thức rõ hơn về vai trò công tác cán bộ nữ lãnh đạo các cấp.

Các thành viên Hội đồng thống nhất đề tài sẽ là căn cứ khoa học định hướng cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng các cấp nhằm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về tỷ lệ cán bộ nữ, đồng thời là cơ sở để các cấp ủy đảng, chính quyền vận dụng các giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý vào công tác xây dựng đề án đào tạo, bố trí cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý của đơn vị. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài bổ sung và hoàn chỉnh báo cáo theo góp ý của các thành viên Hội đồng và phản biện trước khi trình phê duyệt công nhận kết quả.

 Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại: Xuất sắc.

Phòng TT – SHTT

16/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Sáng kiến cấp tỉnh năm 2016: Đề nghị công nhận hơn 40 sáng kiến cấp tỉnh Sáng kiến cấp tỉnh năm 2016: Đề nghị công nhận hơn 40 sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 22/02/2017, tại phòng họp Sở Khoa học và Công nghệ, hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh đã tổ chức họp lần thứ 3 để đánh giá các sáng kiến cấp tỉnh.

hoidongsangkien.JPG

Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh được thành lập theo Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 05/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh gồm 13 thành viên, do đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch hội đồng, đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng.

Năm 2016, với vai trò Thường trực Hội đồng, Sở Khoa học và Công nghệ đã tiếp nhận 05 hồ sơ đề nghị đặc cách công nhận sáng kiến (trong đó có 02 đơn vị cùng đề nghị 01 sáng kiến), 47 hồ sơ đề nghị xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh (trong đó có 02 đơn vị cùng đề nghị 01 sáng kiến).

Sau 03 ngày làm việc tâm huyết, trách nhiệm vào các ngày 19/01/2017, 15/02/2017 và 22/02/2017 tại Sở Khoa học và Công nghệ, Hội đồng đã thống nhất kết quả trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt: 04 đề tài được đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh, 43 sáng kiến đạt yêu cầu, 03 sáng kiến không đạt yêu cầu.

Đây là năm đầu tiên, tỉnh triển khai thực hiện Quy định về hoạt động sáng kiến tỉnh Tây Ninh theo Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong quá trình tổ chức thực hiện Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND, thành viên Hội đồng cũng đề xuất Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung những nội dung còn bất cập, chưa rõ ràng trong Quy định về hoạt động sáng kiến ban hành kèm theo Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND.

                                                                                       KGVX

24/02/2017 10:00 SAĐã ban hành
Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, cơ quan chủ trì đề tài là Trung tâm nghiên cứu ong Miền Nam được thực hiện bởi Chủ nhiệm đề tài là KS Nguyễn Anh Khoa trong 24 tháng.

Được biết đề tài được thực hiện với mục tiêu  xây dựng và phát triển nghề nuôi ong  tại Tây Ninh theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm có giá trị kinh tế cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Đối tượng nghiên cứu của loài ong mật khá phổ biến hiện nay gồm: ong ngoại (Apis mellifera), ong nội (Apis cerana) và ong dú (Trigona sp). Đồng thời, Đề tài còn xây dựng  02 quy trình kỹ thuật  nuôi ong và phòng trị bệnh cho 02 loài ong mật là ong ngoại và ong dú, xây dựng mô hình nuôi ong.

Bên cạnh đó, hoàn thiện 02 quy trình kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm từ ong mật như mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa ong chúa…

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Giấy phép: 01/GP-TTĐT, cấp ngày 08 tháng 01 năm 2021.
Cơ quan chủ quản:  Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trương Văn Hùng - Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Điện thoại: 0276. 3822233 - Fax: 0276. 3827290 - Email: toweb@tayninh.gov.vn.