Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học - Kết quả các chương trình, đề tài
 
​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 24/6/2021 Công nhận 39 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh. 
 
​Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium ...
 
Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:- Tên đề tài: "Biên soạn, chỉnh lý, bổ sung địa lý y tế quân sự tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011-2015".- Cơ quan ...
 
Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:- Tên đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".- Cơ ...
 
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 ...
 
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017.
 
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.
 
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.
 
Ngày 22/02/2017, tại phòng họp Sở Khoa học và Công nghệ, hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh đã tổ chức họp lần thứ 3 để đánh giá các sáng kiến cấp tỉnh.
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây NinhBiên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Tiến Tùng Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 648.857,5 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Làm sáng tỏ quy luật phân bố tài nguyên nước dưới đất, diễn biến số lượng và chất lượng nước dưới đất do tác động của các hoạt động kinh tế ở tỉnh Tây Ninh trong thập kỷ gần đây.

- Đề xuất công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu, điều tra bổ sung, đánh giá chất lượng và trữ lượng nước dưới đất.

- Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh.

- Lập một mô hình dòng chảy nước dưới đất cho toàn bộ khu vực Gò Dầu - Bến Cầu - Trảng Bàng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên hội các bản đồ: bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/50.000; Bản đồ triển vọng khai thác nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000; Các bản đồ phụ trợ và 7 phụ lục; Cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn; Mô hình dòng chảy khai thác nước dưới đất khu vực Gò Dầu, Bến Cầu, Trảng Bàng.

- Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 203.616 công trình khai thác nước dưới đất, trong đó có 83.813 giếng đào vá 119.803 lỗ khoan. Lưu lượng khai thác nước dưới đất phục vụ ăn uống, sinh hoạt, sản xuất là 110.248 m3/ngày.

- Theo sự phân chia địa tầng mới nhất, Tây Ninh được phân chia 8 tầng chứa nước (6 tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích bở rời, 2 tầng chứa nước khe nứt trong đá bazan Pleistocen giữa và các đá nứt nẻ trước Kainozoi) và 8 thành tạo địa chất rất nghèo nước;

- Các tầng chứa nước theo thứ tự từ trên xuống dưới: tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3); Pleistocen giữa - trên (qp2-3); tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa (@qp3); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen giữa (n22); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (n12 ); tầng chứa nước lỗ hổng Miocen trên (n31); tầng chứa nước khe nứt Mesozoi - Paleozoi (ps-ms);

- Trong 8 tầng chứa nước nêu trên, có 5 tầng chứa nước lỗ hỗng: (qp2-3); (qp1); (n22 ); (n12 ); (n31) có khả năng khai thác với quy mô lớn. Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3) và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa và (ps-ms) (ở huyện Tân Châu) đáp ứng cho nhu cầu khai thác nhỏ lẻ đến quy mô vừa.

- Nước dưới đất trong các tầng chủ yếu là nước siêu nhạt, các chỉ tiêu hoá lý đáp ứng được tiêu chuẩn ăn uống; các chỉ tiêu đáng lưu ý nhất về chất lượng nước dưới đất phục vụ cho ăn uống là: pH, hàm lượng sắt và nhôm, hàm lượng Nitrat.

- Trữ lượng khai thác nước dưới đất tiềm năng của tỉnh: 5.099.887 m3/ngày. Trong đó trữ lượng tĩnh trọng lực là 3.387.334 m3/ngày; trữ lượng tĩnh đàn hồi 66.263 m3/ngày. Nguồn bổ cập từ nước mưa: 1.560.561 m3/ngày; nguồn bổ cập từ bên sườn: 11.585 m3/ngày; nguồn bổ cập từ hồ Dầu Tiếng: 74.144 m3/ngày.

- Hiện trạng mực nước và các nguồn nước hình thành trữ lượng được nghiên cứu và tính toán định lượng; đây là những thông tin hữu ít giúp cho việc nghiên cứu và khai thác tài nguyên này cho vùng nghiên cứu;

- Dựa trên các tiêu chí về tỷ lệ tăng dân số, lượng nước tiêu thụ trên đầu người, công nghiệp, thương mại, lượng thất thoát; cho năm 2010 và 2015 là 136.237 m3/ngày và

212.166 m3/ngày.

- Đến cuối năm 2010 ở hầu hết các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 20.791 m3/ngày. Đến năm 2015 thì tất cả các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 70.492 m3/ngày.

- Căn cứ theo hiện tại và quy hoạch các cụm và khu công nghiệp trên toàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tính toán được tổng nhu cầu nước cho 26 cụm và khu công nghiệp là 403.225 m3/ngày.

- Công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất: cập nhật số liệu thường xuyên bằng các số liệu từ mạng quan trắc và điều tra hiện trạng; tiến hành một số thí nghiệm để xác định chính xác các thông số của mô hình; đào tạo các chuyên gia ĐCTV (địa chất thủy văn) và mô hình.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 23/02/2009. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc thẩm định hồ sơ xin cấp phép khai thác nước dưới đất; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép thăm dò nước dưới đất; sử dụng tài nguyên nước.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây NinhNghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống ốc núi và thằn lằn núi tại núi Bà đen Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Hoàng Đức Đạt Cơ quan chủ trì: Viện Sinh học Nhiệt đới Tp. HCM Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 293,255 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định đặc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi; quy trình kỹ thuật nhân giống và các giải pháp bảo tồn 2 nhóm động vật này đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái, tăng giá trị cảnh quan núi Bà Đen nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch sinh thái.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Công tác thực địa.

- Phân tích đặc điểm hình thái, định loại 2 loài Ốc núi và Thằn lằn núi.

- Nghiên cứu dịch tể học của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giá trị dinh dưỡng của 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Thực nghiệm sinh sản nhân tạo và nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống 2 loài Ốc núi, Thằn lằn núi.

- Giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý 2 loài động vật này tại Núi Bà Đen Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đặc điểm sinh học hai loài Ốc núi (ốc nhọn - Cyclophorus annamiticus Moellendorff, 1874 và ốc bằng-Cyclophorus annamiticus H. Cross, 1867) ở núi Bà đen đều thuộc giống Cyclophorus.

+ Hai loài ốc núi có hình thái ngoài khác nhau, nhưng có cấu tạo hệ cơ quan giống nhau. Chúng là những loài ốc phân tính, tuy nhiên không phân biệt được con đực, con cái bằng hình thái ngoài của vỏ ốc; sự phân biệt dựa vào sự có mặt của cơ quan giao cấu ở con đực.

+ Thức ăn chủ yếu của hai loài ốc này là các loại lá cây (ăn các loại lá cây đã mục, không ăn lá cây xanh tươi) và mùn bã hữu cơ có trong đất. Trong các loại lá thử cho ăn, ốc ưa thích nhất lá cây thuộc họ dâu tằm (Moraceae), họ chuối (Musaceae), họ ráy (Araceae), họ bụp (Malvaceae).

+ Sinh sản của ốc núi: chưa thu được nhiều dẫn liệu liên quan đến quá trình sinh sản của hai loài ốc này; chưa phát hiện được nơi đẻ trứng, ốc non mới nở. Tuy nhiên đã phát hiện được ốc nhọn non rất nhỏ khoảng 3 tháng tuổi (đối chiếu ốc non nuôi thí nghiệm) tại các vườn chuối vào cuối mùa mưa. Như vậy, Ốc nhọn đẻ trứng vào nửa đầu của mùa mưa; cũng đã bắt gặp ốc bằng con nhưng kích thước lớn hơn (trọng lượng khoảng 1g) vào đầu mùa khô. Như vậy, Ốc bằng đẻ trứng vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Hai loài ốc núi sinh trưởng tương đối chậm. Trong nuôi thí nghiệm, ốc bằng con có trọng lượng trung bình ban đầu 1,01g/con sau 20 tháng nuôi đạt 8,6g/con; ốc nhọn từ khi mới nở có trọng lượng trung bình 0,018g/con, sau 19 tháng nuôi đạt 8,75g/con. Trọng lượng khai thác ốc nhọn trung bình 10,05 ± 0,33g/con; Trong lượng khai thác ốc bằng trung bình 9,96 ± 0,23g/con.

+ Hai loài ốc núi ở núi Bà Đen trưởng thành sinh dục vào năm thứ ba của đời sống; chúng giao phối trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10, tuy nhiên đẻ rộ từ nửa cuối tháng 6 đến tháng 7. Trứng ốc nhọn có dạng hình cầu, đường kính 4,5mm (mỗi ốc cái đẻ từ 6-14 trứng) vùi trong đất mùn, sau khoảng 01 tháng ốc con nở ra (trọng lượng bình quân 0,018g/con), ốc con sống trong lớp mặt của đất mùn, lá mục.

+ Loài Ốc bằng phân bố hẹp có thể là loài đặc hữu của núi Bà đen Tây Ninh. Nhân giống thành công loài Ốc nhọn, trong hai mùa sinh sản đã thu được 6.833 ốc con, trung bình trong một mùa sinh sản một ốc cái sinh sản được 15 ốc con.

+ Trong quá trình thí nghiệm nuôi 2 loài ốc núi cho thấy: loài ốc nhọn sinh sản rất tốt trong điều kiện nuôi thí nghiệm, có thể phát triển nuôi loài này nhằm giảm cường độ khai thác ốc ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học của núi Bà đen.

- Thằn lằn núi ở núi Bà đen Tây Ninh là Gekko ulikovskii Darevsky und Orlov, 1994 thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae), bộ có vảy (squamata), tên phổ thông: tắc kè hoa cân (tên địa phương: thằn lằn núi).

+ Thằn lằn núi là loài ăn tạp, có phổ thức ăn rộng gồm nhiều loài động vật và thực vật khác nhau; độ no của thằn lằn trong mùa khô lớn hơn mùa mưa, ở con cái lớn hơn con đực và con non; địch hại ngoài thiên nhiên của chúng là chồn, khỉ, chuột, rắn, kỳ đà, bìm bịp.

+ Mùa sinh sản của thằn lằn núi ngoài thiên nhiên kéo dài từ tháng 11 đến tháng 02 năm sau, mỗi lứa đẻ thường có hai trứng đính trên vách hay kẻ đá; thằn lằn núi không mang vi sinh vật gây bệnh cho người; tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây của chúng tương đối thấp.

+ Trong điều kiện nuôi thí nghiệm, thức ăn của thằn lằn gồm trái cây chín, côn trùng, cào cào non, sâu bọ; thằn lằn núi đẻ trứng chủ yếu đẻ trứng từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau, số trứng mỗi lứa là 02, nở dao động từ 61 - 85 ngày, trứng được đẻ trong kẻ đá và ống tre.

+ Tỷ lệ đẻ của thằn lằn núi là 22.5% ở mùa đẻ 2004 - 2005 và 62.2% ở mùa đẻ 2005 - 2006, tỷ lệ trứng nở đạt 50% và 67.3% ở 2 mùa đẻ; con mới nở có trọng lượng 1,08g/con, dài 36,1mm.

- Các dẫn liệu sinh học, dịch tể học, thành phần chất dinh dưỡng của Ốc núi và Thằn Lằn núi. Quy trình sinh sản nhân tạo, nhân giống Ốc núi giống 3 tháng tuổi trở lên (cho 2 loài). Quy trình sinh sản nhân tạo, Thằn lằn núi giống 3 tháng tuổi trở lên.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến Công ty Du lịch Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh làm tư liệu xây dựng quy hoạch phát triển ngành và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lýKhảo cứu các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh và định hướng phát triển quản lý
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Ngọc Hòa Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện là: 155,1 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Nghiên cứu các lễ hội ở Tây Ninh để tìm ra được các giá trị văn hóa, trên cơ sở đó có kế hoạch bảo tồn, phát triển phù hợp văn hóa dân tộc và tập tục địa phương; góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho thế hệ trẻ.

-     Đề xuất các giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Cơ sở lý luận về lễ hội (khái niệm, phân loại, giá trị....)

-     Lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Tây Ninh

-     Các lễ hội truyền thống ở Tây Ninh

-     Giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (giá trị tâm linh, giá trị nghệ thuật, trò chơi dân gian, giá trị thẩm mỹ ứng xử - nối kết cộng đồng, giá trị giáo dục truyền thống; các mặt còn hạn chế của lễ hội Tây Ninh).

-     Các định hướng, giải pháp bảo tồn, phát huy và quản lý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Hệ thống lễ hội Tây Ninh có thể chia thành 3 dạng: lễ hội dân gian (lễ hội dân gian Việt, lễ hội dân tộc ít người), lễ hội tôn giáo (lễ hội đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo), và lễ hội lịch sử cách mạng.

+ Lễ hội dân gian Việt: Tây Ninh có 78 đình, dinh, đèn, miếu và điện đang hoạt động với chu kỳ hàng năm tập trung vào lễ hội chính là Kỳ Yên (thường vào tháng Giêng, 2, 3, 4, 6, 8, 11 và tháng Chạp âm lịch); ngoài lễ chính, còn tổ chức các lễ phụ (Cầu bông, Khai hạ, Tống ôn, Niêm ấn);

+ Lễ hội dân tộc ít người: dân tộc Khmer có 3 lễ hội (Chol Thmây, Đôn ta, Ok-Oom-Bok); dân tộc Chăm (Ramadan, Haji, Maulua); dân tộc Tà Mun (Samco, Donta); người Hoa (lễ vía Quan Thánh Đế Quân, Vía Thiên Hậu Thánh Mẫu);

+ Lễ hội đạo Cao Đài: lễ Vía Đức Chí Tôn, lễ Thượng ngươn, Hội Yến Diêu Trì; Phật giáo (lễ hội Phật Đản và Vu Lan); Thiên chúa giáo (lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh);

+ Lễ hội lịch sử cách mạng: với trên 300 di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng, trong đó có những di tích mang tầm quốc gia (Trung ương Cục, Ban An ninh Miền, Căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam, Căn cứ mặt trận giải phóng Miền Nam, Căn cứ Tua Hai Đồng Khởi); lễ hội xuân Núi Bà Đen được tổ chức vào dịp lễ tết cổ truyền dân tộc hàng năm.

-     Đề tài đã khảo cứu khoảng 18 lễ hội ở Tây Ninh, những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay.

+ Ở Tây Ninh có khoảng 18 lễ hội: lễ hội Đình (lễ Kỳ Yên), hội Quan lớn Trà Vong, Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, tôn giáo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo, dân tộc Khmer, dân tộc Chăm, dân tộc Tà Mun, dân tộc Hoa, làng nghề truyền thống, tín ngưỡng dân gian (lễ Miếu Bà), hội xuân Núi Bà, giao thừa, truyền thống cách mạng Động Kim Quang, chiến thắng Tua Hai, mừng 30/4 đại thắng, Rừng Rong.

+ Những giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền và hiện đại trong xã hội hiện nay: giá trị cố kết cộng đồng; giá trị hướng về nguồn (nguồn cội tự nhiên và xã hội); giá trị cân bằng đời sống tâm linh; giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa; giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

-     Thực trạng quản lý lễ hội Tây Ninh trong những năm qua: một số đình, đền, dinh... hiện nay ở Tây Ninh, khi tế lễ lại tạm mượn nhạc lễ của tôn giáo Cao Đài, một số nơi chuyển hẳn từ vật tế lễ mặn thành vật tế lễ chay, thập bát ban võ nghệ để thờ tự thành câu đối của Cao Đài (màu sắc của lễ hội truyền thống dân gian đã nhuốm màu sắc tôn giáo).

-     Đã là lễ hội bao giờ cũng có hai phần “lễ và hội” cộng hưởng với nhau tạo thành diện mạo trang nghiêm và hấp dẫn của một lễ hội. Qua khảo sát của Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, ở nhiều nơi phần lễ còn quá đơn giản, chưa tạo được ấn tượng tôn vinh các vị tiền bối có công với nước.

-     Đề xuất giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lễ hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

+ Cần sưu tầm lại để phục hồi đúng bài bản gốc phần “lễ và hội”, có sự định hướng tăng cường phần thu hút quần chúng; lễ hội đáp ứng được mục đích giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc; việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội dân gian gắn với du lịch văn hóa - du lịch lễ hội;

+ Tổ chức đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội trên cả 3 mặt: hành chánh pháp chế (quản lý về luật pháp, tổ chức quy hoạch, chế độ chính sách liên quan đến lễ hội); nghiệp vụ chuyên môn (các hoạt động tác nghiệp giữ gìn và phát huy các lễ hội); kinh tế (quản lý chặt chẽ và có kế hoạch chủ động điều tiết các nguồn thu chi);

+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hệ thống hóa và phổ biến những thông tin về di sản văn hóa phi vật thể - lễ hội; rà soát và hệ thống các văn bản pháp luật về lễ hội đang hiện hành để phổ biến cho cơ sở; tổ chức tập huấn cho cán bộ văn hóa các cấp; in sách giới thiệu các lễ hội ở Tây Ninh, những quy định về quản lý lễ hội... phổ biến cho người dân, cho khách du lịch, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 15/02/2012. Kết quả đề tài được chuyển giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh để triển khai ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừĐiều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừ
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Dương Quốc Việt Cơ quan chủ trì: Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 171,435 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá tình hình nhiễm giun sán và những yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ nhiễm trên đàn bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh. Phát hiện các loài giun sán thường gây bệnh, các lứa tuổi của bò có tỷ lệ mắc bệnh cao ở từng vùng khác nhau; hiệu quả một số loại thuốc thường sử dụng điều trị giun sán ở bò.

Đề xuất một số biện pháp phòng và trị bệnh giun sán trên đàn bò nhằm tăng năng suất và đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi bò.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra tình hình nhiễm một số giun sán trên đàn bò nuôi và hạ thịt tại 9 huyện, thị tỉnh Tây Ninh.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm theo vùng địa lý, mật độ chăn nuôi, nhóm tuổi, giống, điều kiện chuồng trại, biện pháp chăm sóc quản lý, trình độ người chăn nuôi theo tháng mùa trong năm.

Thu thập mẫu (mẫu phân và phủ tạng nhiễm ký sinh trùng) để định danh phân loại những loài giun sán trên đàn bò.

Đánh giá biến đổi bệnh lý do ký sinh trùng trên những cơ quan của bò bị nhiễm giun sán.

Bố trí thí nghiệm điều trị những bò, bê bị nhiễm một số loài giun, sán với tỷ lệ nhiễm cao sau khi có kết quả xét nghiệm phân bằng một số loại thuốc trên thị trường.

Đánh giá hiệu quả thuốc bằng cách kiểm tra phân sau 7 ngày sử dụng thuốc điều trị.

Lập bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh.

Đề xuất những biện pháp khả thi để phòng trị các loài ký sinh trùng phát hiện được trên đàn bò được khảo sát nhằm phục vụ chương trình phát triển chăn nuôi bò trong nhân dân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả điều tra tình hình nhiễn giun, sán trên đàn bò qua các phương pháp thực hiện: số liệu chính xác phản ánh được tình hình thực tế tại địa phương.

Qua điều tra 1.000 bò hạ thịt tại các lò giết mổ: tỷ lệ nhiễm giun sán chung là 78,30%, trong đó 66,70% nhiễm sán lá dạ cỏ; 49,20% nhiễm giun dạ múi khế và 7,5% nhiễm giun xoang bụng. Có 31,70% bò nhiễm 2 loài; 6,70% bò nhiễm 3 loài giun sán;

+ Tỷ lệ nhiễm cao nhất khảo sát tại lò mổ huyện Trảng Bàng (chiếm tỷ lệ 82,31%), kế đến huyện Dương Minh Châu (chiếm tỷ lệ 78,18%), Gò Dầu (chiếm tỷ lệ 77,69%), Tân Châu (chiếm tỷ lệ 76,15%), tỷ lệ nhiễm thấp nhất tại huyện Tân Biên (chiếm tỷ lệ 73,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở giống bò lai sind, ta vàng và giống khác (chủ yếu là bò vàng nguồn gốc Campuchia) lần lượt là 75,81%; 77,42% và 91,06%. Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá tăng dần theo các nhóm tuổi của bò dưới 3 tuổi, từ 3 - 5 tuổi và trên 5 tuổi lần lượt là 70,22%; 77,08% và 84,39% (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở bò cái (chiếm 78,63%) cao hơn bò đực (chiếm 77,94% (P > 0,05). Bò chỉ nhiễm 1 loài giun sán chiếm tỷ lệ 39,90%, nhiễm 2 loài chiếm 31,70%, nhiễm 3 loài trở lên chiếm 6,70%.

- Điều tra 2.000 bò nuôi phát hiện bò thường nhiễm giun sán: sán lá dạ cỏ, giun dạ múi khế, giun đũa, sán lá gan, cầu trùng, sán dây, giun tóc, giun kết hạt ... tỷ lệ nhiễm chung là 71,25%, cao nhất là nhiễm sán lá dạ cỏ (50,45%) kế đến là giun dạ múi khế (39,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán cao nhất ở bò nuôi tại huyện Trảng Bàng (chiếm 80,33%), kế đến là Thị xã (chiếm 76,52%), Hoà Thành (chiếm 76,43%), Châu Thành (chiếm 73,75%), Tân Châu (chiếm 72,35%), Gò Dầu (chiếm 68,33%), Dương Minh Châu (chiếm 67,31%), Tân Biên (chiếm 67,27%) và thấp nhất là ở bò nuôi tại huyện Bến Cầu (chiếm 57,00%); tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò nuôi theo phương thức bán chăn thả (chiếm 76,40%) cao hơn bò nuôi nhốt (chiếm 61,29%) (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán giống bò sữa (chủ yếu bò giống Hostein Friesian - F1, F2, F3) thấp nhất (chiếm 63,76%), kế đến là giống bò lai Sind (chiếm 69,58%), bò ta vàng (chiếm 71,79%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là các giống bò khác, bao gồm bò nguồn gốc Campuchia, bò Thái ... (chiếm 89,06%). Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán tăng dần theo lứa tuổi bò từ bò dưới 1 tuổi, bò từ 1 - 3 tuổi, bò từ 3

- 5 tuổi và bò trên 5 tuổi lần lượt là 62,34%; 69,76%; 73,33% và 81,09%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo lứa tuổi bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò đực (chiếm 72,79%) cao hơn bò cái (chiếm 70,33%). Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

+ Tỷ lệ bò nhiễm giun sán tăng theo qui mô của hộ chăn nuôi bò. Tỷ lệ bò nhiễm giun sán ở qui mô chăn nuôi từ 1 - 5 con, từ 6 - 10 con và trên 10 con lần lượt là 68,56%; 72,63% và 77,29%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo qui mô chăn nuôi có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở mùa mưa (chiếm 72,50%) cao hơn mùa khô (chiếm 69,70%). Tuy nhiên, sự khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

Qua điều trị 400 bò nhiễm giun sán: điều trị giun tròn: thuốc Polystrongle hiệu quả hơn thuốc Bivermectin; điều trị sán lá: thuốc Valbazen hiệu quả hơn thuốc Dovenix.

Qua xét nghiệm 100 tiêu bản vi thể cơ quan nội tạng bò nhiễm giun sán cho thấy có sự tổn thương tại những cơ quan nhiễm giun sán như dạ dỏ, dạ múi khế và ở những cơ quan mà trong chu kỳ sống ấu trùng di hành qua như gan, phổi, ruột, thực quản... Từ đó, sẽ ảnh hưởng sức khoẻ, sự tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng của bò và làm giảm năng suất chăn nuôi.

Biện pháp phòng và điều trị bệnh giun, sán trên bò đảm bảo tính khoa học và ứng dụng:

+ Phòng chống bằng thuốc, vệ sinh môi trường, bằng vaccin, diệt các loài vật chủ trung gian truyền bệnh; cơ quan thú y định kỳ kiểm tra, kịp thời phát hiện những loài giun sán ký sinh trên gia súc nuôi để có khuyến cáo, hướng dẫn cán bộ thú y và người chăn nuôi sử dụng thuốc phòng trị hợp lý.

Bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 14/9/2006. Trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Ninh triển khai ứng dụng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu cho học sinh, giáo viên khoa chăn nuôi thú y và các hộ chăn nuôi trong tỉnh;

Sử dụng kết quả khảo sát, hình ảnh đề tài viết một số nội dung phần giun, sán bò trong giáo trình Bệnh ký sinh trùng thú y giảng dạy chuyên ngành chăn nuôi thú y tại trường;

Đào tạo được 430 học viên, học viên ứng dụng kiến thức đã học để chuẩn đoán, điều trị bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò tại địa phương.

Sử dụng kết quả của đề tài tiếp tục thực hiện hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành:

+ Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy phần chuyên biệt học phần bệnh ký sinh trùng tại trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật tại Tây Ninh”, năm học 2009 - 2010, xếp loại Khá.

+ Đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số loại thuốc điều trị giun sán đường tiêu hoá trên bò nuôi tại một số địa bàn thuộc tỉnh Tây Ninh”, năm học 2010 - 2011, xếp loại Khá.

Làm tài liệu nghiên cứu một số nội dung của đề tài cấp tỉnh: “Xây dựng mô hình trạm xá thú y tai trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuat Tây Ninh”, CNĐT: ThS. Lê Thị Kim Lan.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, đánh giá tỷ lệ tổn thương tiền ung thu, ung thư cổ tư cung (CTC), đề xuất giải pháp phòng và điều trị trên địa bàn tỉnh Tây NinhĐiều tra, đánh giá tỷ lệ tổn thương tiền ung thu, ung thư cổ tư cung (CTC), đề xuất giải pháp phòng và điều trị trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS.BS. Phan Hồng Vân và BS.CKI. Phạm Thị Hạnh Cơ quan chủ trì: Trung tâm y tế Dự phòng Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 467,3475 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Xác định tỷ lệ tổn thương tiền ung thu, ung thư cổ tử cung (CTC) bằng phết mỏng, soi, sinh thiết CTC và một số yếu tố liên quan trên phụ nữ 18 - 65 tuổi, đề xuất giải pháp phòng và điều trị trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Xác định tỷ lệ Pap smear bất thường, tỷ lệ tổn thương tiền ung thư, ung thư CTC ở phụ nữ từ 18 - 65 tuổi đã có chồng sống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Xác định tỷ lệ phụ nữ hiểu biết đúng về tầm soát ung thư CTC: về lý do đi khám phụ khoa, về lợi ích của tầm soát ung thư CTC, về những yếu tố nguy cơ, cách phòng ngừa, và phương pháp phát hiện sớm ung thư CTC.

-  Xác định mối liên quan giữa Pap smear bất thường, tổn thương tiền ung thư, ung thư CTC với các yếu tố: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi lập gia đình, mức thu nhập, số lần có thai, số lần sanh, số lần hút nạo, sẩy thai, phương pháp ngừa thai, tiền căn viêm âm đạo, khám phụ khoa, làm Pap smear và kiến thức đúng về tầm soát ung thư CTC của đối tượng nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Khảo xác địa bàn nghiên cứu trên 30 xã, phường và chọn ra 1.500 phụ nữ tham gia nghiên cứu, mỗi xã 50 phụ nữ.

-  Triển khai nghiên cứu: phỏng vấn, khám phụ khoa, làm Pap Smear, soi CTC, nạo kênh CTC và bấm sinh thiết CTC.

-  Thu thập và xử lý số liệu.

-  Đề xuất giải pháp phòng và điều trị.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu 1.500 phụ nữ tuổi từ 18 - 65 tuổi đã có gia đình thuộc 30 cụm của 9 huyện, thị trong tỉnh, thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp và khám phụ khoa lấy mẫu xét nghiệm Pap smear, kết quả đạt tỷ lệ 100% so với dự kiến ban đầu;

-  Phụ nữ trong mẫu nghiên cứu phần lớn là dân tộc Kinh, có mức thu nhập bình quân thấp dưới một triệu đồng trong một tháng chiếm 20,47%; từ một triệu đồng đến ba triệu đồng trong một tháng là 63,4%; lớn hơn ba triệu đồng trong một tháng là 16,13%;

-  Trình độ học vấn, từ cấp 2 trở xuống chiếm 77,7%; tốt nghiệp cấp 3 trở lên chiếm 22,3%. Vấn đề này, chúng ta cần lưu ý để công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao sự hiểu biết của họ đối với tầm soát ung thư CTC hiệu quả hơn;

-  Nghề nghiệp, đa số làm ruộng, nội trợ, buôn bán, làm thuê, thất nghiệp chiếm 72,67%; công nhân viên và nghề khác chiếm 27,33%;

-  Tình trạng hôn nhân, tuổi lập gia đình: phụ nữ đang sống với chồng hay người khác phái như vợ chồng chiếm 90,6%. Phụ nữ ly thân, ly dị, goá chiếm 9,4%; tuổi lập gia đình lần đầu ≤19 tuổi chiếm 22,1%, lập gia đình >19 tuổi chiếm 77,9%. Tuổi lập gia đình nhỏ nhất là 16 tuổi, lớn nhất là 49 tuổi.

-  Phụ nữ nạo sẩy thai ≤3 lần chiếm 99,7%, > 3 lần chiếm 0,3%; phụ nữ nạo hút thai ≤ 3 lần chiếm 79,7%, > 3 lần chiếm 20,3%; không áp dụng biện pháp tránh thai nào chiếm 42,3%, đang áp dụng biện pháp tránh thai chiếm 57,7%; có số lần sanh ≤2 lần chiếm 70,4%, > 2 lần chiếm 29,6%; có thai ±2 lần chiếm 45,7%, >2 lần chiếm 54,3%.

-  Bảng số liệu phân tích chính xác, khoa học có so sánh với các tài liệu nghiên cứu khác.

+ Tỷ lệ Pap smear bất thường là 1% phần lớn là 07 trường hợp ASCUS, AGUS, 07 trường hợp là LSIL và một trường hợp là carcinom tế bào tuyến.

+ Tỷ lệ tổn thương tiền ung thư, ung thư cổ tử cung là 0,47% gồm: CINIII có 04 trường hợp (0,26%) và CINI có 03 trường hợp (0,2%).

+ Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về tầm soát ung thư cổ tử cung là 33,9%.

+ Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Pap smear với tuổi, tuổi lập gia đình, tình trạng hôn nhân, số lần sanh, số lần có thai, phương pháp ngừa thai, số lần nạo sẩy thai p< 0,05. Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Pap smear nghề nghiệp, học vấn, nạo hút thai, tiền căn viêm âm đạo, tiền căn làm Pap smear, khám phụ khoa p> 0,05.

+ Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi lập gia đình, số lần sanh, nguồn cung cấp thông tin, tiền căn làm Pap smear, khám phụ khoa, tiền căn viêm âm đạo p< 0,05. Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với tình trạng hôn nhân và phương pháp ngừa thai p> 0,05.

- Giải pháp phòng và điều trị: thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe; đào tạo tập huấn cho Bác sĩ, nữ hộ sinh của các Trung tâm Y tế trong toàn tỉnh về kỹ thuật làm Pap smear, đọc Pap smear, soi CTC, sinh thiết, nạo kênh CTC; lồng ghép chương trình tầm soát ung thư CTC vào các chương trình khác (kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc bà mẹ và trẻ em,...).

+ Tất cả các phụ nữ sau khi đã lập gia đình từ 18 tuổi đều phải được tư vấn khám phụ khoa định kỳ, làm xét nghiệm Pap smear hàng năm để tầm soát ung thư CTC tại các cơ sở y tế cho đến tuổi 65;

+ Phòng ngừa ung thư CTC có 2 giai đoạn, giai đoạn cảm nhiễm là dự phòng cấp I tiêm ngừa vaccine HPV và dự phòng cấp II là làm Pap smear phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư, ung thu CTC.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 04/01/2012. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Trung tâm Y tế huyện Hòa Thành triển khai đến các Trung tâm Y tế huyện, thị, các Trạm Y tế xã/phường trong tỉnh tăng cường công tác nghiên cứu phòng và điều trị ung thư CTC, một số kết quả đạt được như sau:

-  Tập huấn các Bác sĩ, cử nhân hộ sinh và nữ hộ sinh công tác khám và điều trị sản phụ khoa trong tỉnh: Trung tâm chăm sóc sức khoẻ, khoa sản Bệnh viện đa khoa, khoa phụ sản - Chăm sóc sức khoẻ sinh sản của các Trung tâm y tế trong tỉnh.

-  Đào tạo kỹ thuật chuyên môn sâu về sản phụ khoa cho các BS - CNHS- NHS của các trung tâm y tế trong toàn tỉnh: tham gia các lớp soi cổ tử cung 22 người và lớp xét nghiệm Pap smear 22 người tại (Bệnh viện Từ Dũ);

-  Đào tạo lại kỹ thuật chuyên môn - chuẩn bị triển khai việc thực hiện làm Pap smear cho phụ nữ tại các trung tâm y tế trong toàn tỉnh: mở 04 lớp, mỗi lớp 01 ngày, số lượng 240 người tại Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ sinh sản tỉnh.

-  Mở phòng tư vấn: bệnh viện tỉnh, Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Trung tâm y tế huyện, Trạm y tế xã phường; kết hợp với phòng kế hoạch hoá gia đình - Chăm sóc bảo vệ Bà mẹ và trẻ em của các trung tâm y tế trong tỉnh.

Thông tin tuyên truyền trên đài truyền hình, truyền thanh mỗi quý một lần/năm.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khảo sát, đánh giá biện pháp can thiệp cộng đồng tăng huyết áp ở người lớn tại Tây NinhKhảo sát, đánh giá biện pháp can thiệp cộng đồng tăng huyết áp ở người lớn tại Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: BS CKI. Đào Thị Lan Cơ quan chủ trì: Sở Y tế Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 339,099 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Đánh giá tình hình bệnh tăng huyết áp (THA) ở người lớn ( ≥18 tuổi) tại tỉnh Tây Ninh năm 2005 - 2006.

-  Đánh giá tỷ lệ giảm tác hại của người bệnh sau khi can thiệp tại cộng đồng bằng các hình thức thay đổi lối sống có nguy cơ bệnh và cách sử dụng thuốc. Cụ thể xác định:

+ Tỷ lệ bệnh THA ở người lớn ( ≥18 tuổi)

+ Tỷ lệ người ≥18 tuổi đã biết mình có bệnh THA

+ Tỷ lệ người ≥18 tuổi THA có điều trị bệnh.

+ Tỷ lệ người ≥18 tuổi THA có điều trị và đạt hiệu quả kiểm soát được huyết áp.

+ Mối liên quan giữa THA với các yếu tố: giới, tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, trình độ học vấn, béo phì, ăn mặn, hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể lực, tiền sử gia đình.

+ Tỷ lệ chấp nhận điều trị và tỷ lệ kiểm soát được huyết áp của các trường hợp mới mắc theo sơ đồ điều trị THA của JNC VII sau 3 tháng và 6 tháng.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên cơ sở lấy 3.600 mẫu từ 30 cụm xã, phường, thị trấn của toàn tỉnh. Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn và đo huyết áp từ một bản câu hỏi định sẵn. Các đối tượng có kết quả chuẩn đoán THA được đưa vào mẫu can thiệp điều trị bằng biện pháp thay đổi lối sống hoặc bằng thuốc và được đánh giá hiệu quả mỗi 3 tháng một lần.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Bảng số liệu bao gồm: số liệu về đối tượng nghiên cứu; tỷ lệ THA ở người ≥18 tuổi tại tỉnh Tây Ninh, người đã biết mình có bệnh THA, người THA có điều trị và đạt hiệu quả kiểm soát được huyết áp.

Qua nghiên cứu 3.600 người ≥18 tuổi đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; và mẫu nghiên cứu 361 bệnh nhân THA phát hiện được qua điều tra tại 30 xã, phường, thị trấn trong tỉnh có kết quả:

-  Tuổi trung bình 42,82 ±17,09; nam chiếm 42%, nữ chiếm 58%; dân tộc Kinh chiếm 98,2%; trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống chiếm hơn 50%, cấp 2 và 3 chiếm 27,9%, đại học và sau đại học chiếm 2%; lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao 53,56%.

+ Tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng cao, ở nhóm tuổi trên 60 tuổi thì tỷ lệ THA rất cao 42,9%; tỷ lệ THA ở nam (15%) cao hơn nữ (12,8%), người có học vấn (chưa tốt nghiệp tiểu học) có tỷ lệ THA 50,7%; người lao động chân tay và những lao động khác có tỷ lệ THA cao hơn lao động trí óc;

-  Tỷ lệ THA chung là 13,8%; tỷ lệ người ≥18 tuổi biết mình có THA là 11,8%; tỷ lệ người biết mình THA có điều trị bằng thuốc là 58,4%.

-  Báo cáo phân tích mối liên quan giữa THA với các yếu tố: giới, tuổi, nghề nghiệp, béo phì, ăn mặn, hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể lực, tiền sử gia đình.

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh THA được ghi nhận: Béo phì, ăn mặn, hút thuốc lá, uống rượu bia, tầng suất uống rượu/bia, tiền sử bệnh ĐTĐ.

+ Đa số sử dụng dầu thực vật trong nấu ăn (87,8%), chỉ 6,7% dùng mở động vật; người dân cũng có thói quen dùng xen kẽ nhiều loại dầu mỡ khi nấu ăn (4,6%); dùng bơ động vật trong nấu ăn chiếm tỉ lệ rất thấp 0,1%. Người THA có tỷ lệ béo phì cao hơn người không THA ở tất cả các tầng, không có yếu tố gây nhiễu, học vấn là yếu tố tương tác.

+ Tỷ lệ ăn mặn theo đánh giá và nhận xét của những người xung quanh là 24,3% và tỷ lệ ăn hàng ngày các món mặn, nhiều muối rất cao 70,58%. Người bệnh THA có tần suất ăn mặn thấp hơn người không THA ở tất cả các tầng, không có yếu tố nào làm thay đổi tác động và gây nhiễu.

+ Tỷ lệ có hút thuốc lá 23% trong quá khứ và 27% hút hiện tại. Đây là một tỷ lệ khá cao; số năm hút thuốc trung bình rất cao 22,58 năm; tuổi bắt đầu hút thuốc thường xuyên hàng ngày 21,5 tuổi; loại thuốc hút là thuốc điếu chiếm 92%, thuốc rê, thuốc lào ít phổ biến hơn.

Người THA có tỷ lệ hút thuốc lá hiện tại cao hơn người không THA ở tất cả các tầng, giới tính là yếu tố tương tác lên tỷ lệ hút thuốc lá, tuổi là yếu tố gây nhiễu trên tỷ lệ hút thuốc lá.

+ Tỷ lệ có đo đường huyết trong 12 tháng 26,2%; tỷ lệ ĐTĐ 4,5%; tỷ lệ có uống rượu bia khá cao, chiếm tỷ lệ 25,3%. Trong đó, 36,8% uống ít thường xuyên và 35,2% uống mỗi tuần, 10,7% uống hàng ngày. Số lượng ly uống mỗi lần trung bình 3,77 ly. Người bệnh THA có tần suất uống rượu bia cao gấp 2 lần người không THA ở tất cả các tầng, không có yếu tố nào làm thay đổi tác động, tuổi là yếu tố gây nhiễu.

-  Tỷ lệ bệnh nhân đạt HA mục tiêu bằng biện pháp can thiệp cộng đồng sau 3 tháng và sau 6 tháng lần lượt là 53,3% và 73,5%.

-  Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ THA giữa các nhóm: tuổi, giới, nghề nghiệp và trình độ học vấn.

-  Điều trị bằng biện pháp không dùng thuốc: ngưng hút thuốc sau 3 tháng và 6 tháng lần lượt là 33,6% và 43%; ngưng uống rượu hoặc giảm rượu là 81,1% và 90,7%; tăng vận động (đi bộ là 62,1% và 84,6%; đi xe đạp; tập thể dục hằng ngày); thực hiện chế độ ăn giảm muối.

-  Điều trị bằng biện pháp dùng thuốc: uống thuốc điều đặn đạt khoảng > 90%; 94,6 % bệnh nhân uống đủ liều; 88,7 % đến khám đúng hẹn.

-  Mô hình chăm sóc sức khỏe người THA.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG:

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 14/01/2008. Kết quả nghiên cứu được các Trung tâm Y tế 08 huyện và thị xã ứng dụng trong điều trị và quản lý người bệnh THA.

-  Trong tháng 12/2011, Trung tâm Y tế huyện Dương Minh Châu (DMC) đã tiến hành tập huấn triển khai ứng dụng kết quả cho các bác sỹ, điều dưỡng của 09 huyện, thị và Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh (có 57 người tham dự), riêng 10 trạm y tế xã của huyện DMC có 33 người tham dự; từ tháng 6/2012 đến 11/2012, tỷ lệ người được tư vấn của 10 trạm y tế trung bình là 69,78%/tháng. Tổng số lần tư vấn từ tháng 6 - 11/2012 là 6.587 lần với tổng số tờ rơi phát ra 5.738 tờ; Trung tâm y tế huyện Gò Dầu đã tư vấn được 331 bệnh nhân và phát ra được 24 tờ rơi.

-  Hiện nay ở mỗi đơn vị ứng dụng đều có phòng tư vấn để phục vụ cho công tác triển khai, Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh có 02 phòng, 09 Trung tâm y tế huyện đều có 09 phòng, 10 trạm y tế xã thuộc huyện DMC có 10 phòng.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vữngNghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vững
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Phát hiện, đánh giá quá trình thoái hóa đất nông nghiệp và đất đô thị (do xói mòn, bạc màu, mất hữu cơ và ô nhiễm). Đề xuất biện pháp ngăn chặn, sử dụng đất hợp lý, bền vững, nâng cao năng suất cây trồng và quyền lợi của người dân nông thôn và vùng ven đô.

Tạo hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ, giúp quản lý, chỉ đạo nhanh, cập nhật và hữu hiệu tài nguyên đất của tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát và thu thập, biên hội tài liệu về hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Biên hội số liệu, lập tiền dữ liệu về tài nguyên môi trường sinh thái đất Tây Ninh.

Điều tra khảo sát quá trình xói mòn đất dốc Tây Ninh trên nhiều loai đất và nhiều độ dốc khác nhau.

Điều tra và khảo sát quá trình bạc màu hóa đất trong hệ sinh thái cây khoai mì, mía, đậu phộng, lúa, vườn cây ăn trái Tây Ninh.

Điều tra và khảo sát quá trình mất chất hữu cơ ở các vùng đất thung lũng ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh rạch, các bưng trũng cục bộ, xung quanh hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá suy thoái đất trên từng vùng sinh thái nông, lâm nghiệp.

Điều tra tập quán, kinh nghiệm sản xuất, vận dụng, kết hợp kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sử dụng đất tối ưu.

Xác định mức độ suy thoái môi trường sinh thái và suy giảm tài nguyên đất bằng, điều tra năng suất, chất lượng cây trồng theo thời gian.

Xác định mức độ nhiễm đất do chất thải đô thị và công nghiệp vùng ngoại thành, vùng xung quanh các khu công nghiệp tỷ lệ bản đồ 1/50.000.

Thiết lập chuỗi số liệu tài nguyên môi trường để diễn tả tốc độ, chiều hướng suy thoái.

Thành lập các bản đồ suy thoái đất.

Phân vùng suy thoái tổng hợp toàn tỉnh trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

Xây dựng phương án khảo nghiệm sử dụng đất tối ưu trên máy tính.

Xây dựng và thử nghiệm phương pháp pilot xói mòn, bạc màu và mất chất hữu cơ tại một số điểm “nóng”.

Đánh giá rủi ro môi trường đất (do ô nhiễm, mất dưỡng chất, sụt lỡ đất, nứt đất).

Xây dựng phương án khảo nghiệm nhanh bằng phương pháp sử dụng đất tối ưu trên thực địa theo từng hệ sinh thái đất, trên cơ sở bài toán kinh tế sinh thái nông nghiệp.

Đề xuất các thông số chỉ thị cho phát triển bền vững hệ sinh thái môi trường đất nông nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài đã điều tra, nghiên cứu xây dựng thành lập bản đồ hiện trạng nhằm đánh giá mức độ suy thoái đất, đề xuất một số vấn đề phục vụ cho việc sử dụng bền vững tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau: Vấn đề xói mòn đất; bạc màu hoa đất; mất chất hữu cơ; chất thải đô thị và công nghiệp ảnh hưởng lên môi trường đất và đề xuất một số kiến nghị cần thực hiện.

+ Mức độ thoái hóa đất được thể hiện ở một số vấn đề: xói mòn đất, bạc màu hóa đất, mất chất hữu cơ, chất thải đô thị và công nghiệp;

+ Quá trình xói mòn diễn ra trên tỉnh Tây Ninh hầu như thấp so với các khu vực khác trong vùng Đông Nam Bộ. Nếu đi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình có xu hướng thấp dần, nên cường độ xói mòn ít dần. Đối với khu vực Núi Bà Đen, địa hình cao, độ dốc lớn, rất dễ xãy ra xói mòn;

+ Tài nguyên đất Tây Ninh phần lớn là nhóm đất xám (chiếm tới 85,65% tổng diện tích đất tự nhiên), nhóm đất này nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ màu kém, hàm lượng mùn, vi sinh vật trong đất thấp. Điều này gây bất lợi lớn đối với cây trồng;

+ Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, ba nhóm đất tập trung khai thác cho sản xuất đất nông nghiệp là: xám - phèn - phù sa.

Một số khu vực có biểu hiện của quá trình bạc màu như: xã Mỏ Công, Trà Vong, Thạnh Bình, Tân Bình (huyện Tân Biên), Thạnh Đông, Tân Hà, Tân Thành, Tân Hòa (huyện Tân Châu), Long Khánh, Long Phước, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Minh, Phước Ninh, Bến Củi (huyện Dương Minh Châu), Ninh Sơn (thị xã Tây Ninh), Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Trường Đông (huyện Hòa Thành).

Hàm lượng nitơ tổng số trong đất ở Tây Ninh là rất thấp cả vào mùa mưa lẫn mùa khô; ở tầng nông, mùa mưa chỉ từ 0,0011- 0,0153% và mùa nắng từ 0,0001- 0,002%, độ phì nhiêu tiềm tàng của đất kém.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất. Đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, độc tính cao, khó phân hủy sinh học, tích lũy trong đất với thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

Biện pháp chống xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác: lĩnh vực nông nghiệp: chọn thời vụ thích hợp, bón phân, phủ đất; lâm nghiệp: trồng rừng trên đồi núi và dọc ven hồ Dầu Tiếng, theo hệ thống kênh rạch Tây Ninh; hóa học kết hợp với sinh học: dùng chất liên kết màng và cây cỏ che phủ mặt đất quanh năm;

+ Thực hiện công tác quy hoạch đưa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra khỏi khu dân cư. Xử phạt nghiêm khắc các cơ sở sản xuất, đơn vị gây ô nhiễm, nhằm ngăn ngừa lây lan chất ô nhiễm từ các hoạt động của đô thị và khu công nghiệp;

+ Duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất; luân xen canh cây hoa màu; làm bờ thửa cho nhóm đất xám trên phù sa cổ; cải tạo nhóm đất phèn; đẩy mạnh công tác xã hội, khuyến nông, sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng.

Các phần mềm cơ sở dữ liệu dễ sử dụng và là công cụ phục vụ quản lý; hệ thống các bản đồ tỷ lệ 1/50.000 về tiềm năng xói mòn, hiện trạng đất bạc màu, hiện trạng mất hữu cơ, chất lượng môi trường đất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu đã đóng gop vào cơ sở dữ liệu về đất ở Tây Ninh phục vụ các nghiên cứu có liên quan như: đánh giá các quá trình suy thoái tài nguyên môi trường đất nông nghiệp; định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa MátĐiều tra, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên động, thực vật vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Ngọc Long và KS. Lý Văn Trợ Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 458,26 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao và các loài thực vật bậc thấp có ý nghĩa khoa học và kinh tế hiện diện trong khu Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát (VQG) cùng với tình trạng phân bố của chúng.

-     Xác định được các quần thể động vật quan trọng tại VQG, mức độ phổ biến và tình trạng nguy cấp, nơi phân bố của chúng.

-     Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên động, thực vật.

-     Lập bản đồ thảm thực vật.

-     Thu thập và bảo quản một số mẫu vật tiêu biểu cho các loài động vật: thú nhỏ, bò sát, cá, chim, côn trùng; thực vật bậc thấp, bậc cao và cây thuốc quan trọng tại VQG tạo cơ sở cần thiết cho các bước nghiên cứu quy hoạch và phát triển Vườn quốc gia sau này.

-     Đề xuất các biện pháp bảo tồn động, thực vật phù hợp.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật bậc cao, thấp.

-     Nghiên cứu về tài nguyên động vật trên cạn và thủy sinh vật.

-     Nghiên cứu, mô tả các vùng sinh thái cảnh quan tiêu biểu, đánh giá tài nguyên về tiềm năng du lịch sinh thái.

-     Xác định vùng phân bố, tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp.

-     Phân vùng chức năng.

-     Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội và môi trường vùng VQG.

-     Ứng dụng công nghệ xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng ngân hàng dữ liệu và hoàn chỉnh các loại sơ đồ bản đồ tỷ lệ 1/25.000.

-     Xác định tác động, mối liên quan giữa khu bảo tồn nghiêm ngặt (vùng lõi) với khu hệ đệm, đề xuất mô hình thích hợp phát triển khu đệm theo hướng đáp ứng mục tiêu bảo tồn khu bảo vệ nghiêm ngặt và các khu bảo vệ chuyên biệt.

-     Phát thảo hoàn chỉnh một số đề án bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư trong nước và quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Đề tài đã tạo ra được bộ tiêu bản động vật, côn trùng và thực vật; Bản đồ hệ thống dữ liệu thông tin địa lý (GIS).

-     Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát có đặc tính ngập nước cục bộ là một khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng thềm bậc cao Đông Nam bộ và đồng bằng thấp trũng lưu vực sông Mê Kông; đất phù sa cổ chiếm phần lớn diện tích của Vườn có thành phần cơ giới đất cát pha đến đất thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém.

-     Nguyên nhân không giữ được nước của đất rừng trong mùa khô mà sự bốc hơi nước quá chênh lệch giữa hai mùa, chỉ có những loài nào có cấu tạo thích nghi được trở nên tồn tại và phát triển (giải thích tại sao rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát cùng tồn tại kiểu rừng nhiệt đới gió mùa và kiểu rừng thưa rụng lá).

-     Hệ thực vật rừng VQG đã tổng kết được khoảng 700 loài với đại diện của 5 ngành thực vật, 60 bộ, 116 họ và 396 chi. Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) là nơi tập trung của nhiều loài thực vật nhất (chiếm 97.1%/tổng số loài thực vật).

-     Dựa vào điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý và khí hậu, thành phần cơ giới của đất, độ ẩm và tốc độ bay hơi nước, rừng Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát đã tồn tại các kiểu thảm rừng khác nhau đan xen nhau theo thể khảm.

-     Có 6 kiểu rừng tiêu biểu cho VQG: kiểu rừng đất ngập nước theo mùa, kiểu rừng thưa thứ sinh, khô, nhiệt đới gió mùa, thưa rụng lá, rừng nguyên sinh. Ở các kiểu rừng này là nơi sinh sống của nhiều loài khác nhau, liên quan đến sự đa dạng sinh vật.

-     Tài nguyên cây thuốc của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát khá phong phú và đa dạng không chỉ về thành phần loài (179 loài) mà cả về công dụng. Một số loài cây thuốc sau đây rất được ưa chuộng và khai thác nhiều: đậu xương, sưng đừng, dây linh, dây nắp ấm, sám lộc, huyết rồng máu, hoàng đằng, lạc tiên, bồ húc, mướp khai.

-     Đã ghi nhận được 149 loài Chim thuộc 15 bộ và 40 họ (có 3 loài quí hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam: Gà lôi hông tía Laphura diardi, Gà đẫy Java Leptotilos javanicus, Hạc cổ trắng Ciconia episcopus).

-     Nhóm ếch nhái gồm 23 loài thuộc 2 bộ, 6 họ và 15 giống (bằng 13,2% loài ếch nhái so với cả nước).

-     Bò sát gồm 56 loài (15 họ và 40 giống) thuộc 2 bộ, trong đó có 18 loài bò sát quí hiếm.

-     Khu hệ cá VQG mang tính đặc trưng của vùng trung lưu và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ, 10 bộ (77/88 loài cá có giá trị kinh tế , 5/88 loài cá có tên trong sách đỏ Việt Nam).

-     Ghi nhận được 29 loài thú của 7 bộ: bộ ăn sâu bọ, bộ dơi, bộ linh trưởng, bộ móng guốc chẵn, bộ ăn thịt, bộ gặm nhấm, bộ thỏ.

-     Hệ Côn trùng ghi nhận được 128 taxa côn trùng thuộc 9 bộ.

-     Những loài thú của Vườn Quốc Gia Lò Gò- Xa Mát đang bị đe dọa nghiêm trọng vì tác động của con người và môi trường phát triển ngày càng xấu; một số loài rất có giá trị nhưng lại bị xếp vào dạng nguy cấp: Vooc Chà vá chân đen, Vooc Bạc, Khỉ đuôi lợn, Culi nhỏ, Sóc bay đen trắng, Dơi chó tai ngắn; chăn thả gia súc trâu bò của người đồng bào Khmer vùng biên giới, nguy cơ cháy rừng thường ngày vào mùa khô, đánh bắt cá, bẫy gà rừng và thú nhỏ.

-     Giải pháp bảo tồn và phát triển của Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát: can thiệp bằng lực bảo vệ rừng; xây dựng chương trình giáo dục môi trường phối hợp với trường học trên địa bàn VQG; tiếp tục khảo sát, triển khai việc nghiên cứu thêm các đối tượng mới làm đa dạng tài nguyên sinh học ở VQG.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2926/QĐ-UBND ngày 17/12/2007. Kết quả đề tài được ứng dụng trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái VQG và Dự án đầu tư VQG giai đoạn 2011 - 2020; Một số đề án bảo tồn Đa dạng sinh học đối với: rừng thuần loại cây Sao dầu; các nhóm tài nguyên cây thuốc, các nhóm thú, chim và bò sát quý hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa.

-     Cung cấp tư liệu cho cơ quan báo chí, các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường đại học.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xây dựng lực lượng Công an xã vững mạnh, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về An ninh trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây NinhXây dựng lực lượng Công an xã vững mạnh, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về An ninh trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Văn Chiến Cơ quan chủ trì: Công an Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 – 2006 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 82,895 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Nghiên cứu toàn diện lực lượng Công an xã trong tỉnh: chức năng nhiệm vụ của lực lượng Công an xã trong việc đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự, quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Qua đó đưa ra các giải pháp nhằm củng cố xây dựng lực lượng, khắc phục những hạn chế yếu kém; bồi dưỡng, huấn luyện và trang bị phương tiện hoạt động; chế độ chính sách cho lực lượng Công an xã, để lực lượng này đảm bảo thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn an ninh trật tự (ANTT) ở cơ sở trong tình hình mới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng về biên chế, lực lượng Công an xã toàn tỉnh từ khi có Nghị định 40/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ đến nay. Kết quả đạt được trong thực hiện công tác giữ gìn an ninh trật tự; quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, từ khi có Nghị định 40/CP đến nay và những tồn tại, hạn chế.

- Đánh giá nguyên nhân đạt được, những hạn chế yếu kém về đội ngũ Công an xã, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.

Đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ lớn sau:

- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của các cấp chính quyền, đối với lực lượng Công an xã.

- Tiếp tục củng cố và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ, trong đó tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng tuần tra nhân dân (TTND).

- Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Công an cấp trên đối với lực lượng Công an xã. Tập trung đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị, pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn, cho lực lượng Công an xã.

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, xây dựng lực lượng Công an xã trong thời gian tới.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên chế của Công an các xã, thị trấn trong tỉnh đã được kiện toàn theo mô hình thống nhất: mỗi xã có 01 Trưởng công an xã, 02 Phó công an xã, có từ 03 công an viên thường trực tại xã và mỗi ấp, khu phố bố trí 01 công an viên phụ trách.

- Về trang bị, phương tiện làm việc: hầu hết Công an xã, thị trấn trong tỉnh đều được bố trí từ 01 đến 02 phòng làm việc, nằm trong khuôn viên trụ sở UBND xã, thị trấn; được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, phương tiện thông tin liên lạc, trang phục và các phương tiện khác.

- Lực lượng Công an xã đã phát huy được chức năng nhiệm vụ của mình, đóng vai trò quan trọng việc giữ gìn an ninh trật tự, quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội và trong xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

- Tuy nhiên lực lượng Công an xã cũng còn một số hạn chế, tồn tại như: công tác nắm tình hình chưa kịp thời; công tác quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội còn sơ hở; việc xây dựng và củng cố phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ chưa đáp ứng yêu cầu công tác nghiệp vụ của ngành; trình độ, năng lực đội ngũ Công an xã còn hạn chế.

- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế là: cấp ủy, chính quyền và Công an cấp huyện một số nơi chưa quan tâm đầy đủ việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động Công an xã; lực lượng Công an xã (nhất là công an viên) số lượng không ổn định; nhiều công an viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức vi phạm kỷ luật; trang bị, phương tiện làm việc; chế độ, chính sách đối với Công an xã chưa đảm bảo.

- Giải pháp thực hiện là đào tạo nâng cao trình độ; củng cố tổ chức; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp; sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Công an cấp trên; nhằm xây dựng, củng cố lực lượng Công an xã ngày càng vững mạnh; đào tạo, bồi dưỡng cho Trưởng, Phó trưởng Công an xã và Công an viên vững về nghiệp vụ chuyên môn, pháp luật, lý luận chính trị, đồng thời xây dựng, củng cố lực lượng nòng cốt quản lý địa bàn (mô hình tổ tự quản), góp phần đảm bảo giữ gìn ANTT ở cơ sở, có tính khả thi cao về mọi mặt:

+ Đối với đội ngũ Trưởng, Phó Công an xã và Công an viên: cần nhanh chóng mở lớp đào tạo trình độ Trung cấp nghiệp vụ và Trung cấp chính trị theo kế hoạch của Công an tỉnh, thực hiện theo Quyết định số 1369/QĐ-BCA(X14) của Bộ trưởng Bộ Công an.

+ Đối với đội ngũ Công an viên: hằng năm Công an tỉnh duy trì việc mở lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho tất cả Công an viên các xã, thị trấn trong tỉnh. Đối với số Công an viên mới được tuyển chọn, phải được tập huấn nhiều hơn, nhằm đào tạo, huấn luyện giúp cho lực lượng này nắm vững kiến thức cơ bản về Công an xã và các mặt công tác nghiệp vụ công an.

+ Bố trí Công an chính quy về làm Trưởng hoặc cấp Phó Công an xã, thị trấn, nơi mà những địa phương trọng điểm và phức tạp về ANTT. Tăng cường số lượng Công an viên thường trực tại xã; tuyển chọn cán bộ là người dân tộc làm Công an xã ở những khu vực có đông đồng bào dân tộc cư ngụ theo cộng đồng.

+ Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng làm công tác ANTT ở cơ sở (trong đó đặc biệt chú ý củng cố, nâng cao chất lượng của các Tổ tự quản).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 15/01/2007. Công an tỉnh Tây Ninh tổ chức triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác quản lý của ngành ở 3 xã: Tân Hưng (huyện Tân Châu), Thạnh Bắc (huyện Tân Biên) và Hảo Đước (huyện Châu Thành). Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, Công an tỉnh đề xuất thực hiện những vấn đề trọng tâm sau:

- Đề xuất Bộ Công an:

+ Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị định 40/NĐ-CP về Công an xã, trên cơ sở đó đề xuất Bộ Công an đề nghị Chính phủ ban hành Pháp lệnh về Công an xã (thay thế cho Nghị định 40/NĐ-CP);

+ Ban hành chế độ công tác của lực lượng Công an phụ trách xã để thống nhất việc điều hành, quản lý hoạt động của lực lượng Công an xã trên toàn quốc;

- Đề xuất UBND tỉnh:

+ Tăng số lượng Công an viên thường trực tại xã theo hướng xã, thị trấn có dân số dưới

9.000 người, thì được bố trí 03 Công an viên thường trực tại xã; nếu xã, thị trấn có số dân trên 9.000 người trở lên thì cứ tăng 3.000 người dân được bố trí thêm 01 Công an viên thường trực .

+ Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 428/QĐ-UB ngày 07/7/1994, trên cơ sở đó đề xuất UBMTTQ Việt Nam tỉnh Tây Ninh phối hợp với các ngành chức năng ban hành quy chế mới về hoạt động của Tổ tự quản, đồng thời tính toán điều chỉnh lại quy mô của các Tổ tự quản theo hướng giảm bớt số hộ dân trong mỗi tổ, để thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh.

+ Ban hành văn bản có tính pháp quy, quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và các vấn đề khác về lực lượng TTND.

+ Chỉ đạo các ngành chức năng triển khai việc xây dựng nhà tạm giữ hành chính tại các xã, phường, thị trấn, thực hiện theo Quyết định số 80/2002/QĐ-UB ngày 30/7/2002.

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá mức độ lan truyền các chất ô nhiễm của nước thải sản xuất chế biến đường, tinh bột mì, cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đề xuất các giải pháp quản lý và biện pháp khắc phục ô nhiễm nước ngầmNghiên cứu, đánh giá mức độ lan truyền các chất ô nhiễm của nước thải sản xuất chế biến đường, tinh bột mì, cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đề xuất các giải pháp quản lý và biện pháp khắc phục ô nhiễm nước ngầm
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Phước Dân Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 202 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Điều tra đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước ngầm do nước thải sản xuất chế biến đường, bột mì và cao su trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

- Dự báo tình hình lan truyền chất ô nhiễm vào trong đất và nước ngầm. Đề xuất các giải pháp quản lý và các biện pháp khắc phục ô nhiểm nước ngầm do nước thải sản xuất chế biến đường, bột mì và cao su, góp phần cung cấp cơ sở khoa học, tham vấn cho các cơ quan chức năng quy hoạch và phát triển các ngành kinh tế của Tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát, điều tra thực trạng diện tích, sản lượng, số lượng các cơ sở, mức độ ô nhiễm của tầng nước ngầm trong các khu vực có các cơ sở chế biến tinh bột, đường, cao su. Đánh giá những tác động ảnh hưởng của nó đến môi trường, đất, nước, khí và kinh tế xã hội, thực trạng các hệ thống xử lý nước hiện nay trong tỉnh và thu thập các công nghệ điển hình trong và ngoài nước, từ đó đề xuất các phương pháp xử lý nước thải phù hợp với từng ngành.

- Thu thập các số liệu về địa chất, trữ lượng nước ngầm ở các khu vực sản suất từ đó đánh giá khả năng tự thấm của đất.

- Khảo sát thành phần, tính chất của nước thải đặc trưng của ngành chế biến nông sản trong nước ngầm hiện nay. Phân tích thành phần nước thải chế biến tinh bột mì, đường và cao su ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm mạch nông xung quanh các cơ sở chế biến tinh bột mì, đường, cao su. Từ đó nghiên cứu, đánh giá những tác động ảnh hưởng đến môi trường như: đất, khí, nước và kinh tế xã hội xung quanh các cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ảnh hưởng đến kinh tế xã hội và sức khỏe nhân dân trong khu vực có các cơ sở hoạt động.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Tình hình sử dụng và quản lý nước ngầm ở Tây Ninh: Tây Ninh là tỉnh có tiềm năng nước dưới đất phong phú, việc khai thác và sử dụng nước ngầm ở đây đã có từ trước năm 1975; hiện nay quy mô khai thác nước ngầm ngày càng phát triển rộng, các ngành sản xuất tinh bột mì, cao su, chế biến đường sử dụng nước ngầm phục vụ cho sản xuất (với tổng lượng nước tiêu thụ trung bình khoảng 67.400 m3/ngày cho cả 03 đơn vị sản xuất);

- Kết quả phân tích mẫu nước ngầm, mẫu nước mặt, mẫu nước thải tại những khu vực có cơ sở chế biến tinh bột mì, đường và cao su.

+ Theo kết quả khảo sát, khoảng 90% nhà máy chế biến khoai mì trong khu vực có hồ ổn định nước thải không có lớp lót chống thấm và đa số đều bị quá tải, nước sau xử lý không đáp ứng được tiêu chuẩn xả thải;

+ Nước thải chế biến mủ cao su thuộc loại có tính chất gây ô nhiễm nặng (ô nhiễm hữu cơ và ô nhiễm chất dinh dưỡng), nước thải này dể phân hủy kỵ khí tạo thành khí H2S và mercaptan là những hợp chất không những gây độc và ô nhiễm môi trường mà chúng còn là nguyên nhân gây mùi hôi thối ảnh hưởng đến môi trường và dân cư trong khu vực, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và có thể gây nên quá trình phú dưỡng khác;

+ Nước thải nhà máy sản xuất đường có nồng độ chất hữu cơ cao, biến thiên lớn, tỷ số BOD/COD lớn, chứng tỏ nước thải dể phân hủy sinh học; hiệu quả xử lý của hệ thống nước thải ở các nhà máy vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn (COD> 100 mg/l, BOD5>50 mg/l), hệ thống hồ tùy nghi tiếp nối hồ kỵ khí (không chống thấm) gây ô nhiễm các giếng lân cận.

- Các cơ sở sản xuất tinh bột mì, cao su và cơ sở sản xuất đường ở Tây Ninh chưa có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh, gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt tiếp nhận, ảnh hưởng đến chất lượng tầng nước ngầm.

- So với tiêu chuẩn nước dùng cho ăn uống TCVN 5501 - 1991 thì nồng độ BOD và COD trong nước ở khu vực này cao hơn gấp nhiều lần.

- Trong tương lai, nếu các nhà máy sản xuất này, đặc biệt là các nhà máy sản xuất cao su nếu tăng công suất và không có biện pháp xử lý thích hợp thì mức độ nhiễm nước ở tầng 1 khu vực các nhà máy sẽ có nồng độ các chất ô nhiễm vượt mức tiêu chuẩn nhiều lần.

- Để giảm thiểu việc khai thác nước ngầm và giảm thiểu ô nhiễm, cần kiểm soát khai thác nước ngầm; giảm nhu cầu dùng nước; tăng lượng nước bổ cập bằng cách bảo tồn tầng chứa nước; ban hành các luật quy định và tiêu chuẩn hợp lý về bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm; quy hoạch lại các ngành sử dụng nhiều nước. Một số giải pháp kỹ thuật khả thi có thể áp dụng:

+ Xử lý tại chỗ bằng thấm nhanh qua đất: nước ngầm ô nhiễm được bơm lên xử lý sơ bộ, châm chất dinh dưỡng, sục khí. Sau đó, nước được đưa vào hệ thống ống phân phối hoặc mương phân phối và được bơm trực tiếp vào đất nhờ vào quá trình phân hủy của vi sinh vật trong đất, nồng độ chất ô nhiễm giảm đáng kể (xung quanh ống phân phối được bao bọc bằng lớp đá dăm);

+ Xử lý tại nguồn thải: chống thấm toàn bộ hồ chứa sẵn có bằng lớp chống thấm HPDE, tránh không cho nước thải thấm xuống đất vào tầng nước ngầm; xây dựng hệ thống tiền xử lý đạt tiêu chuẩn loại C;

+ Xử lý xa nguồn: nước ngầm ô nhiễm được bơm vào hệ thống xử lý, đưa qua bể lọc sinh học tiếp xúc có sục khí, đi vào bể lắng, vào cột lọc cát nhằm khử SS cũng như phần hữu cơ còn sót lại.

- Nâng cao năng lực của cán bộ chuyên môn về quản lý tài nguyên nước ngầm, mở rộng mạng lưới cấp nước và tuyên truyền ý thức sử dụng nước sạch sâu rộng đến từng người dân, từng gia đình trong tỉnh;

- Phần mềm dự báo lan truyền các chất ô nhiễm từ các cơ sở sản xuất tinh bột mì, cao su, mía đường ảnh hưởng đến nước ngầm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; bảng đồ hiện trạng tỷ lệ 1/25.000.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 413/QĐ-UBND ngày 06/6/2007. Kết quả nghiên cứu đã đạt được làm cơ sở giúp cho Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh xây dựng biện pháp quy hoạch, quản lý và xử lý nước ngầm thích hợp cho tỉnh Tây Ninh.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây NinhXây dựng cơ sở dữ liệu địa chất công trình tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đoàn Ngọc Toản Cơ quan chủ trì: Liên đoàn ĐCTV- ĐCCT miền Nam (nay là Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước MN) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 600,503 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-  Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chất công trình (ĐCCT) và các chương trình hỗ trợ để thành lập các bản đồ ĐCCT. CSDL có khả năng lưu trữ và cập nhật các tài liệu khảo sát ĐCCT toàn tỉnh, nhất là địa bàn thị xã và thị trấn.

-  Xây dựng chương trình hỗ trợ thành lập cột địa tầng, mặt cắt và các bản đồ ĐCCT chuyên môn phục vụ cho các ngành kinh tế và khoa học khác nhau.

-  Thành lập loạt bản đồ ĐCCT phục vụ cho quy hoạch xây dựng và sử dụng hợp lý tài nguyên đất khu vực thị xã Tây Ninh.

-  Đào tạo cán bộ kỹ thuật ứng dụng các kết quả nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Thu thập toàn bộ số liệu các công trình nghiên cứu về ĐCCT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

-  Phân loại, sắp xếp các số liệu cần lưu trữ để nhập vào CSDL.

-  Xác định mối quan hệ của các số liệu lưu trữ, các công thức tính toán trên tập hợp các số liệu.

-  Xác định các dạng bản vẽ, các biểu bảng, các loại đồ thị cần xuất ra từ CSDL

-  Xây dựng các bảng cần thiết để lưu trữ số liệu.

-  Xây dựng các quan hệ, các ràng buộc toàn vẹn, các miền giá trị.

-  Xây dựng các giao diện để nhập, xuất, kiểm tra số liệu.

-  Viết các hàm, modules để CSDL hoạt động.

-  Viết các chương trình hỗ trợ thành lập các bản vẽ, mặt cắt, biểu đồ, trên cơ sở các số liệu được xuất ra từ CSDL.

-  Tạo liên kết giữa CSDL với bản đồ, đưa các số liệu trong CSDL trở thành các đối tượng, các thuộc tính của đối tượng GIS.

-  Số liệu trong CSDL được liên kết với bản đồ, các bảng trong CSDL là thuộc tính của bản đồ Người khai thác số liệu có thể tìm kiếm thông tin từ CSDL hoặc từ các bản đồ liên quan.

-  Dựa trên CSDL tính toán các chỉ tiêu cơ lý của đất đá và in ra các biểu bảng, đồ thị thống nhất, giúp cán bộ làm công tác khảo sát ĐCCT dễ dàng thành lập các bản vẽ và biểu bảng cần thiết cho công tác lập báo cáo khảo sát.

-  Viết hướng dẫn sử dụng, biên tập thành file help.

-  Dựa trên CSDL và các phần mềm hỗ trợ tiến hành thành lập loạt bản đồ ĐCCT khu vực thị xã Tây Ninh, phục vụ cho công tác quy hoạch xây dựng, quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên đất.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Đề tài đã thu thập phong phú, đầy đủ các tài liệu về địa chất, địa mạo, ĐCCT đã có trong vùng, đã chỉnh lý chi tiết và có hiệu quả tài liệu điều tra cơ bản của vùng, đặc biệt trong việc phân tích chỉnh lý tài liệu ĐCCT.

-  Thành lập cơ sở dữ liệu ĐCCT trong môi trường nhiều người dùng, tương thích với hệ thống thông tin địa lý (GIS) lưu trữ các loại số liệu về kết quả nghiên cứu ĐCCT, cung cấp số liệu cho các chương trình và phần mềm xử lý số liệu. Viết các chương trình hỗ trợ cho công tác lập bản vẽ, bản đồ ĐCCT. CSDL và các chương trình hỗ trợ là một phần mềm máy tính chuyên dùng trong công tác nghiên cứu ĐCCT.

-  Cơ sở dữ liệu ĐCCT tỉnh Tây Ninh được xây dựng dựa trên các đặc điểm về địa hình (đồi núi, thành tạo do sông), cấu trúc địa chất, và tính chất cơ lý của đất đá, vật liệu xây dựng. Kết quả phân vùng ĐCCT ở Tây Ninh thành 05 vùng, mỗi vùng có điều kiện và đặc trưng riêng.

+ Địa hình đồi núi: bao gồm các sườn núi thành tạo trên các khối xâm nhập (núi Bà Đen), có độ dốc trung bình 15 - 400 đến 50 - 600; trắc địa dọc của địa hình có dạng lõm, mạng lưới dòng chảy tạm thời rất phát triển.

+ Địa hình thành tạo do sông: chiếm phần diện tích còn lại của vùng nghiên cứu như: bãi bồi ven lòng tuổi Holocen muộn, thời muộn (Q2), thềm tích tụ - xâm thực bậc II tuổi Pleistocen muộn, thời muộn (Q1 3), thềm xâm thực tích tụ bậc III tuổi Pleistocen muộn, thời sớm (Q1  1).

+ Cấu trúc địa chất: các trầm tích đệ tứ bao gồm các thành tạo nguồn gốc sông và nguồn gốc sông - đầm lầy phân bố gần như rộng khắp trong vùng nghiên cứu; các thành tạo magma xâm nhập phân bố ở phía Đông với diện tích khoảng 6 km.

+ Đặc điểm địa chất thủy văn: nhìn chung mực nước ngầm trong vùng nghiên cứu nằm nông, nước dưới đất trong vùng có 3 loại ăn mòn đối với bê tông: chủ yếu là ăn mòn rủa lũa, ăn mòn carbonic, ăn mòn axit. Trong vùng không hiện diện ăn mòn sulfat, tại vị trí lỗ khoan DT1 nước không có khả năng ăn mòn.

+ Tính chất cơ lý của đất đá: trong phạm vi ảnh hưởng của móng các công trình xây dựng và nền đất (0 - 30m) các thành tạo đất đá được phân chia thành 4 loạt thạch học là loạt thạch học deluvi, loạt thạch học sông - đầm lầy, loạt thạch học sông và loạt thạch học magma xâm nhập và được chia thành 9 phức hệ thạch học. Các phức hệ thạch học được chia ra 21 kiểu thạch học. Nhìn chung phần lớn diện tích nghiên cứu có cấu trúc đất nền và tính chất cơ lý của đất đá thuận lợi cho việc đặt móng xây dựng công trình.

+ Vật liệu xây dựng: trong phạm vùng nghiên cứu, nguồn vật liệu xây dựng khá hạn chế, chủ yếu là đá xây dựng, cuội sỏi và đất san lấp.

- Kết quả phân vùng địa chất công trình:

+ Vùng thị xã Tây Ninh thuộc miền VII địa chất công trình toàn quốc và được chia thành 4 vùng là vùng đồi núi, vùng đồng bằng xâm thực tích tụ, đồng bằng tích tụ - xâm thực và đồng bằng tích tụ.

+ Vùng đồi núi phân bố ở phía Đông thị xã Tây Ninh và được phân thành 2 khu địa chất công trình VIIA1 và VIIA2. Các khu này không thuận lợi cho xây dựng.

+ Vùng đồng bằng xâm thực tích tụ phân bố chủ yếu ở phía Bắc và một phần ở phía Đông Nam của thị xã Tây Ninh và được chia thành 3 khu địa chất công trình VIIB1, VIIB2, và VIIB3. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ xâm thực phân bố chủ yếu ở phía Tây, phía Nam và trung tâm của thị xã Tây Ninh và được chia ra thành 2 khu địa chất công trình VIIC1, VIIC2. Nhìn chung đây là vùng thuận lợi cho việc đặt móng các công trình xây dựng.

+ Vùng đồng bằng tích tụ phân bố củ yếu ở phía Tây, Tây Nam dọc theo rạch Tây Ninh và các rạch nhỏ trong vùng. Được chia thành 6 khu địa chất công trình VIID1, VIID2, VIID3, VIID4, VIID5 và VIID6. Các khu VIID4, VIID5 và VIID6 không thuận lợi cho xây dựng. Khi có nhu cầu xây dựng tại đây cần sử dụng giải pháp gia cố nền hoặc móng thích hợp.

-  Số lượng tài liệu địa chất công trình thu thập được chủ yếu tập trung ở trung tâm của thị xã. Vì vậy số lượng lỗ khoan trên bản đồ phân bố không đều, có những vùng còn chưa có các công trình nên việc nghiên cứu, phân chia ra các cấp nhều dày của các phức hệ thạch học còn mang tính định tính và chủ yếu dựa vào độ cao địa hình.

-  Bản đồ ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng thị xã Tây Ninh (TXTN) và các mặt cắt đi kèm, bản đồ phân vùng ĐCCT tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN; bản đồ cột địa tầng lỗ khoan tỷ lệ 1/10.000 và bản đồ tài liệu thực tế ĐCCT tỷ lệ 1/10.000, bản đồ sức chịu tải quy ước tỷ lệ 1/10.000 vùng TXTN.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 463/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi), Sở Giao thông Vận tải, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Xây dựng ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lão nông Lê Văn Dĩ trong vườn rau thơm xen rau rừng phủ lưới che.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tây Ninh lần thứ 10 năm 2016-2017 do Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) chủ trì phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Tuy số lượng có giảm so với Hội thi lần thứ 9, năm 2014-2015 (110 so với 163 giải pháp), nhưng điểm nổi bật là các mô hình/giải pháp đoạt giải thưởng đều thể hiện được tính mới mẻ, sáng tạo, đặc biệt là tính ứng dụng cao, có khả năng giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lao động sản xuất và công tác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành chụp ảnh lưu niệm trong đợt tham quan, khảo sát giải pháp “Máy trồng mì” của cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải.

Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông có 5 giải pháp dự thi. Trong những kỳ hội thi trước đây, số giải pháp dự thi ở lĩnh vực này không nhiều, người dự thi hầu hết là cán bộ thuộc Sở Thông tin - Truyền thông và ngành Giáo dục - Ðào tạo. Cả 2 giải pháp đoạt giải lần này đều là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Giải pháp “Ứng dụng ngôn ngữ lập trình C vào Kit arduino góp phần nâng cao năng lực hợp tác của sinh viên ngành CNTT” của nhóm giảng viên Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh (Trần Phong Vũ, Công Tôn Nữ Lương Thành, Ðặng Văn Tráng); tuy thiết bị Arduino không mới nhưng việc ứng dụng ngôn ngữ lập trình C là sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm “Thiết bị tưới thông minh dành cho hệ thống thuỷ canh ghép động-tĩnh”, tạo hứng thú học tập cho sinh viên và có được sản phẩm thực tế phục vụ giảng dạy.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Dàn bón phân định lượng của Phạm Văn Hùng (Tân Châu).

Lĩnh vực “Công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải” có 35 giải pháp dự thi và tất cả đều là giải pháp công nghiệp (không có xây dựng và giao thông vận tải). Hầu hết các giải pháp là cải tiến, sáng chế thiết bị phục vụ nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong sản xuất và đời sống; nhiều tác giả đoạt giải ở lĩnh vực này đã từng có giải cao ở những kỳ hội thi trước đây như: Phạm Văn Hùng (cơ sở cơ khí Tư Hùng ở Tân Châu), Trần Quốc Hải (cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải- Tân Châu), Trịnh Thành Nghiêm (Công ty cổ phần Cấp thoát nước Tây Ninh)…

Giải pháp “Sáng chế dụng cụ gắn máng che mưa trên cây cao su” của Trần Văn Long- công nhân Nông trường Cao su Tân Biên có chi phí chế tạo thấp, lại vận hành dễ dàng và hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong toàn ngành cao su. Còn giải pháp “Cải tiến xe vận chuyển mủ thành xe chữa cháy trên vườn cao su” của Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi có thể giải quyết được vấn đề phòng cháy chữa cháy (PCCC) tại chỗ của đơn vị, và có khả năng áp dụng rộng rãi trong các nông trường cao su cũng như các vườn cây lớn, các khu vực rừng tự nhiên và khu dân cư.

Trong khi đó, giải pháp “Máy trồng mì” và “Máy thu hoạch khoai mì” của Trần Quốc Hải đã hoàn chỉnh quy trình “cơ giới hoá cây mì” với hiệu quả cao khi thử nghiệm ở Tây Ninh, Bình Phước và Campuchia (máy đã được bán hơn 50 chiếc cho nông dân các tỉnh). Giải pháp “Máy trộn và sấy muối ớt” của Nguyễn Quốc Thái ở xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành lại là một sáng tạo có tính năng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu sản xuất đặc sản muối ớt tôm ở Tây Ninh.

Giải pháp “Dàn bón phân định lượng” của Phạm Văn Hùng (Tân Châu) đáp ứng nhu cầu bón phân cho những cây trồng cách khoảng (cây cao su non, cây ăn quả…) làm giảm thất thoát phân bón, tăng khả năng hấp thụ cho cây trồng (máy đã được bán ra thị trường hơn 30 chiếc).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài và một trong những chiếc xe PCCC từ sáng kiến của ông

 

ĩnh vực vật liệu, hoá chất, năng lượng có 5 giải pháp dự thi. “Xử lý sắt và mangan trong nước ngầm không sử dụng hoá chất” của nhóm tác giả Trịnh Thành Nghiêm, Nguyễn Lan Ðình, Nguyễn Văn Hùng thuộc Công ty cổ phần Cấp thoát nước tỉnh ứng dụng công nghệ của Công ty PERNAM cho 2 trạm cấp nước huyện Bến Cầu và Châu Thành, giúp công ty tiết kiệm được chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cũng như giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình xử lý và vận hành hệ thống với nguồn nước thô là nước ngầm; chất lượng nước sau khi xử lý và cung cấp bảo đảm đạt quy chuẩn nước sinh hoạt.

Nông lâm thuỷ sản, tài nguyên và môi trường là lĩnh vực tập trung nhiều giải pháp nhất (40) với hầu hết các tác giả là nông dân. “Nuôi trồng bon sai trong môi trường nước” là giải pháp dự thi của nhóm tác giả thuộc Hội Sinh vật cảnh Tây Ninh (gồm Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quốc Phương và Trần Hoài Ân) mở ra hướng mới cho người kinh doanh, nuôi trồng sinh vật cảnh, thúc đẩy sự phát triển ngành sinh vật cảnh Tây Ninh.

Còn giải pháp “Trồng rau thơm xen rau rừng phủ lưới che” của tác giả Lê Văn Dĩ- Chủ nhiệm Tổ hợp tác rau rừng VietGAP ấp Lộc Trát, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng đưa ra mô hình kết hợp trồng rau trong lưới che, hạn chế được sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất và chất lượng rau; đặc biệt là thuần dưỡng được rau rừng trên diện tích đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.

Mô hình “Nuôi dơi lấy phân cho hiệu quả kinh tế cao” của Phạm Kim Liên và Lê Thu Thuỷ ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu lại phổ biến quy trình nuôi dơi lấy phân để bán, kết hợp phục vụ sản xuất cây trồng trên diện tích đất nuôi dơi, mang đến hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long tạo tán cho cây- một khâu trong mô hình “Nuôi trồng bonsai trong môi trường nước”.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có 25 giải pháp, được tuyển chọn từ các sáng kiến của các trường trong tỉnh. Giải pháp “Xây dựng cấu trúc đề kiểm tra môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” của tác giả Tạ Xuân Thơ- giáo viên Trường THPT Tây Ninh giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, trong khi “Khảo sát truyện dân gian Tây Ninh” của tác giả Hà Thị Thới - giảng viên Trường CÐSP Tây Ninh, là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện dân gian- nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hội thi lần này, ban tổ chức đã xét chọn 10 giải pháp (trong số 18 giải pháp đoạt giải Nhì và giải Ba) đưa đi tham dự Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2016-2017 (chưa công bố kết quả).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Chị Phạm Kim Liên và mô hình “Nuôi dơi lấy phân” cho hiệu quả kinh tế cao.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật tỉnh Tây Ninh lần này tiếp tục khẳng định đây là nơi hội tụ, phát huy tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy phong trào quần chúng tiến công vào khoa học kỹ thuật. Ðối tượng tham gia khá đa dạng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Ðiều đáng tiếc là Hội thi phát động 6 lĩnh vực nhưng chỉ có 5 lĩnh vực có giải pháp dự thi, còn lại lĩnh vực y dược không có giải pháp nào.

Riêng 2 lĩnh vực: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và vật liệu, hoá chất, năng lượng còn ít giải pháp dự thi (mỗi lĩnh vực chỉ có 5). Và số lượng giải pháp tham gia Hội thi tổng cộng cũng chỉ có 110- chưa tương xứng với tiềm năng trong tỉnh. Còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm việc vận động cán bộ, công nhân tham gia Hội thi.

Hội thi lần này cũng không có giải pháp dự thi từ lực lượng đoàn viên thanh niên. Với ngành Y tế, tuy hằng năm đều có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở, nhưng lại không có giải pháp nào tham gia Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật.

Theo Báo Tây Ninh Online

05/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
Điều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa tángĐiều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa táng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hận Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 198,96 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

         MỤC TIÊU

-  Quy hoạch việc chôn cất hài cốt tập trung, không sử dụng đất thổ để xây dựng mồ mả, hướng đến tập quán hỏa táng, phù hợp với nền văn minh mới hợp vệ sinh.

-  Quy hoạch nghĩa địa nhằm mục đích đảm bảo tình hình sử dụng đất, đảm bảo vệ sinh nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo môi trường sinh thái nét đẹp mỹ quan đô thị.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

-  Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội.

-  Điều tra, khảo sát hiện trạng chôn cất, phân tích môi trường (đất nước).

-  Thống xử số liệu.

-  Xây dựng hình toán về tốc độ tăng dân số theo tỷ lệ chết.

-  Lập số hóa các loại bản đồ bằng phương pháp GIS.

-  Xây dựng bản đồ quy hoạch nghĩa trang trên phần mềm Mapinfo.

-  Tham quan đề xuất biện pháp hỏa táng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sở Khoa học Công nghệ Tây Ninh đã tiến hành điều tra với số lượng 7.772 phiếu về việc hỏa táng: chỉ 18,6% đồng ý; 5% đồng ý nếu như Nhà nước chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

-  Ý kiến của các đoàn thể tôn giáo đa số đồng ý với hình thức hỏa táng; do vậy với sự tác động của các tổ chức này, tâm về chôn cất của người dân dần dần sẽ thay đổi.

-   Phương pháp hỏa táng: phương pháp dùng nhiệt độ cao (khoảng 600- 10000C) đốt xác người cùng với quan tài các vật liệu tẩm liệm thành tro, xương người khi đó bị cháy thành các mảnh vụn. Một phần tro xương sau đó được cho vào hủ kín để thờ phụng hoặc đem rải xuống sông, hồ.

 

 

 

-  Công nghệ hỏa táng theo nhiên liệu đốt (củi, dầu, điện, gas) xử khói bằng phương pháp đốt bổ sung (đốt lại), gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu (buồng đốt cấp), nhiệt độ cháy được giữ 600 - 9000C, giai đoạn thứ hai (buồng đốt thứ cấp), nhiệt độ 900 - 1.1000C được kiểm soát để tạo ra các sản phẩm cháy hoàn toàn.

-  Thiết bị: phù hợp với đặc thù của tỉnh, đảm bảo tính công nghệ tiên tiến, an toàn bảo vệ môi trường; một số thiết bị chuyên dùng: điện ABB của Thụy Sĩ, gas Pyrox của Canada, hỏa táng Power - pak II của Mỹ.

Qua quá trình thu thập thông tin, dữ liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu hiện trạng nghĩa địa, nghĩa trang trên địa bàn tỉnh, đề tài đã đề xuất được hình hỏa táng xây dựng Trung tâm hỏa táng Tây Ninh trực thuộc Sở lao động, Thương binh hội tỉnh Tây Ninh với công nghệ đốt Power - Pak của Mỹ với nguyên liệu đốt gas. Đây một trung tâm hoạt động công ích thu, đóng góp cho hội về mặt nhân đạo, từ thiện bảo vệ môi trường.

Địa điểm của Trung tâm hỏa táng đáp ứng được nhu cầu của nhiều địa phương, rộng rãi, thoáng, yên tĩnh, trang nghiêm thuận tiện cho đi lại, bố cục kiến trúc hợp lý, tính dân tộc, phù hợp với đặc thù của tỉnh, sạch đẹp tạo ấn tượng tốt về một nơi an nghỉ cuối cùng cho người đã khuất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm của đề tài được chuyển giao cho Sở Lao động Thương Binh hội, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu ứng dụng trong xây dựng đề án về “Nghĩa trang xanh”, trong công tác quản của ngành. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sở khoa học để Sở Lao động Thương binh hội tham mưu UBND tỉnh phê duyệt dự án xây dựng công trình đài hỏa táng tại Trường Hòa, huyện a Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 7/2009, Công ty TNHH Fairy Park Việt Nam (thuộc tập đoàn Fairy Park, Malaysia) trụ sở tại 274, Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng “Sơn Trang Tiên Cảnh” tại ấp Trường Thọ, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh với số vốn đầu 20 triệu USD, tổng diện tích khu đất khoảng 75 ha giai đoạn 1 với diện tích khoảng 14 ha, dự kiến sẽ phục vụ khoảng 5.000 ngôi mộ an táng, trên 8.000 chỗ lưu trữ tro cốt hỏa táng, chưa kể phần mộ cải táng. Sơn Trang Tiên Cảnh được xây dựng theo mô hình Fairy Park tại Malaysia, có phong cảnh cây cỏ, suối nước, non bộ, các tượng thần, thánh của các tôn giáo, đội ngũ nhân viên chăm sóc mộ...

Từ tháng 8/2011, tập đoàn Fairy Park (Malaysia) đưa Sơn Trang Tiên Cảnh đi vào hoạt động. nơi chôn cất được xây dựng theo kiểu kiến trúc mới, hiện đại hợp phong thủy. Phong cách tiên tiến không nhang khói, phù hợp với chính sách bảo vệ môi trường; hộp đựng tro cốt được làm bằng nhôm, nhập khẩu từ Đài Loan, thiêu bằng diesel... Đây hạng mục công trình lớn nhất, hiện đại nhất của nước ngoài đầu vào lĩnh vực này

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Thực trạng và giải pháp phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Tây NinhThực trạng và giải pháp phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Võ Hoàng Khải Cơ quan chủ trì: Trường Chính Trị Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2009 - 2011 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 205,45 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

            MỤC TIÊU

-  Đánh giá thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong 10 năm (1998 - 2008).

-  Đề xuất và áp dụng những giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tình hình mới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Điều tra xã hội học (XHH) các điểm điển hình.

-  Thu thập số liệu ở các huyện, thị xã để xây dựng số liệu thống kê.

-  Xử lý các phiếu điều tra XHH bằng phần mềm SPSS.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Cơ sở lý luận về quyền dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn:

+ Đảng ta xác định: “để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước” và đề ra nhiệm vụ trọng tâm: “khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở”.

+ Trong điều kiện hiện nay, cấp cơ sở là mắt xích yếu nhất trong hệ thống chính trị, hệ thống Nhà nước ta hiện nay. Nhiều vấn đề nổi cộm, tiêu cực đang tiềm tàng, những nơi nổ ra “điểm nóng” cũng xuất phát từ cơ sở. Ở cơ sở dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng, nạn tham ô, tham nhũng, ức hiếp nhân dân diễn ra tràn lan kéo dài mà chưa có quy phạm pháp luật cụ thể, chưa được quan tâm đúng mức có phần lỏng lẻo và không sâu sắc.

-  Cơ sở pháp lý của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn:

+ Thực hiện chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị; UBTVQH ban hành Nghị quyết số 45/1998/TVQH10 ngày 26/02/1998; Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”.

+ Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy chế của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư.

-  Thực trạng triển khai và thực hiện quy chế dân chủ ở xã:

+ Tổng số 436 phiếu phân tích số 1 (phiếu dùng cho cán bộ chủ chốt ở xã, phường, thị trấn), kết quả thực hiện quy chế dân chủ của chính quyền địa phương đưa ra vấn đề có liên quan đến quyền lợi của nhân dân: có 93,8% ý kiến người được hỏi về chủ trương và mức độ đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi tại cơ sở hạ tầng; xây dựng quy ước cộng đồng dân cư có 91,1%; các công việc tự quản khác là 93,3% đều xác nhận đã làm tốt công việc này.

+ Tổng số 403 phiếu phân tích số 2 (phiếu dùng cho trưởng thôn, bí thư chi bộ, cán bộ mặt trận ấp, khu phố), kết quả triển khai quy chế dân chủ: số được tiếp nhận học tập Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (chiếm 72,9%); Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 07/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (chiếm 82,5%); Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 20/4/2007, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (chiếm 83,8%); số nơi họp dân đạt yêu cầu theo quy định của quy chế đạt 71,6%.

+ Tổng số 409 phiếu phân tích số 3 (phiếu điều tra hộ dân cư) về tình hình nhân dân tiếp nhận quy chế dân chủ, người được hỏi cho biết: người được phổ biến và biết về quy chế này chiếm 86,6%; người chưa được biết chiếm 9,8%; về việc họp dân, số người tham dự họp 1 lần/năm là 4,4%, 2 lần là 23%, 3 lần là 66,3%, 4 lần là 2,4%; số người thường xuyên dự họp chiếm 9,7%.

-  Qua thực hiện quy chế dân chủ, đại bộ phận nhận thấy quyền và lợi ích của mình, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện trên thực tế. Có 95/95 xã, phường, thị trấn trong tỉnh tổ chức triển khai và có chương trình, kế hoạch thực hiện ở cơ sở khá tốt.

-  Tuy nhiên, ở một số cấp xã vẫn còn hạn chế và bộc lộ những khiếm khuyết cần sửa đổi bổ sung và hoàn thiện: tham nhũng, lãng phí chưa được xử lý một cách triệt để, gây ảnh hưởng nhiều đến thực thi dân chủ; nhiều địa phương hằng năm không có tổ chức kiểm tra, kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện quy ước.

-  Giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tình hình mới: đẩy mạnh việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ xã, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy xã, đôn đốc việc thực hiện quy chế dân chủ; tăng cường việc đối thoại hai chiều và nhiều chiều giữa bộ máy quản lý với người dân; thực hiện quy chế dân chủ gắn với công tác cải cách hành chính theo mô hình một cửa; 100% công việc liên quan đến dân đều được công khai niêm yết quy trình, thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý hành chính.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1130/QĐ-UBND, ngày 02/6/2011. Kết quả đề tài được tổ chức triển khai trong năm 2012 cho 8/9 huyện, thị xã trong tỉnh với số lượng 75 học viên/lớp/ huyện.

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu chọn lọc giống và các định biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nâng cao năng suất phẩm chất mãng cầu Tây NinhNghiên cứu chọn lọc giống và các định biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nâng cao năng suất phẩm chất mãng cầu Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Xuân Khôi Cơ quan chủ trì: Trung tâm Giống Nông nghiệp Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 306,104 triệu đồng. Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá tiềm năng, xác định các yếu tố giới hạn cần khắc phục trong hiện trạng sản xuất và thị trường tiêu thu cây mãng cầu ta (MC) tại Tây Ninh.

- Xác định tập đoàn giống và tuyển chọn các dòng MC tốt cho sản xuất.

- Xác định một số biện pháp canh tác thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất cây MC trên địa bàn, tạo điều kiện hướng đến thương hiệu đặc trưng của MC Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra hiện trạng sản xuất MC tại Tây Ninh.

- Khảo sát tập đoàn giống/dòng MC tại Tây Ninh.

- Thu thập các thông số, đặc điểm, chất lượng trái tại thời điểm thu hoạch, thông tin các tiêu chuẩn trái theo yêu cầu thị trường.

- Điều tra, theo dõi các cá thể MC tốt để đưa vào sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường.

- Triển khai các thí nghiệm nghiên cứu gồm có: nghiên cứu hiệu quả một số phương pháp ghép chuyển giống trên cây MC; liều lượng phân bón ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất cây MC; hiệu quả của biện pháp bấm, tỉa ngọn cành trước ra hoa và tỉa thưa trái MC; độ chín thu hoạch trái MC nhằm đảm bảo chất lượng trái theo yêu cau của Thị trường; Hiệu quả mot số hóa chat làm rụng lá trước khi ra đọt non trên cây MC.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Hiện trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ MC, các thế mạnh và hạn chế cần khắc phục.

+ Các vườn trồng mãng cầu ta nhân giống bằng hạt, vườn cây không thuần giống, năng suất quả loại một thấp.

+ Việc sử dụng phân bón và phân bón lá khác biệt lớn về số lượng, chủng loại nhưng chưa nắm được sự cân đối dinh dưỡng và sự lãng phí dinh dưỡng, chi phí sản xuất cao, rủi ro lớn.

+ Một số đối tượng gây hại mãng cầu như bọ trĩ, rệp sáp, bọ vòi voi, ruồi đục quả bệnh nứt thân xì mủ đã trở thành mối hiểm họa lớn cho người trồng mãng cầu, mặc dù cường độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cao nhưng chưa kiểm soát có hiệu quả.

+ Nhà vườn tiêu thụ sản phẩm thiếu sự liên kết để tập trung sản lượng theo từng chủng loại sản phẩm, theo từng thị trường nên giá cả tuy cao nhưng phải qua quá nhiều khâu trung gian làm giá tiêu thụ tại vườn thấp.

+ Việc sơ chế, bao bì đóng gói sản phẩm còn thô sơ nên ảnh hưởng chất lượng, hình thức sản phẩm làm giảm giá trị thương phẩm.

+ Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm hướng tới an toàn thực phẩm, cần sản xuất mãng cầu ta theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), trong đó cần nghiên cứu quy trình kiểm soát tổng hợp cho các đối tượng gây hại như: rệp sáp, bọ trĩ, bọ vòi voi, ruồi đục quả và bệnh nứt thân xì mủ.

+ Cần liên kết xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm hướng đến việc sản xuất - tiêu thụ sản phẩm vừa bảo đảm đồng bộ về tiêu chuẩn, quy cách vừa đáp ứng số lượng và chất lượng cho từng loại thị trường.

- Ghi nhận tập đoàn giống và các cá thể MC tốt: 4 cá thể MC sinh trưởng tốt (MC dai, MC bở, MC Thanh long và MC tím) Trong đó, MC dai là giống chủ yếu chiếm tỷ lệ 98.05% trong cơ cấu giống các vườn điều tra.

- Phương pháp ghép chuyển giống MC thích hợp đạt yêu cầu khoa học và ứng dụng.

+ Kết quả bình tuyển cây đầu dòng đã phát hiện bốn cá thể ưu tú, trong đó có cá thể MCTN08 có đặc điểm nổi trội về năng suất đạt (16 kg/cây/vụ). Ngoài ra các cá thể khac MCTN05, MCTN04, MCTN11 năng suất khá cao và mỗi giống có một trong số ưu điểm khác biệt tốt hơn so với bình quân quần thể như: ít hạt, tỷ lệ phần ăn được cao, độ brix cao, tỷ lệ đậu quả cao.

So sánh bốn kiểu ghép cho thấy kiểu ghép mắt bo da và ghép vát ngọn với tuổi gốc ghép 10 - 12 tháng, cành ghép là đoạn cành đã rụng lá có 2 - 3 mắt lá cho tỷ lệ sống và cây con giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn tốt nhất với tỷ lệ ghép thành công ở ghép mắt (74%), ghép vát ngọn (60%).

- Công thức phân bón hữu cơ, kết hợp vô cơ, phân bón lá, bổ sung vi lượng sử dụng trên cây MC tại Tây Ninh đạt yêu cầu kỹ thuật.

+ Liều lượng sử dụng phân bón vô cơ và hữu cơ cho cây mang cầu ta đã xác định được công thức phân bón qua đất gồm: 300gN + 150g P2O5 + 300gK2O + 75gMgSO4 + 20kg

Phân chuồng hoai/cây và bón bổ sung qua lá công thức phân bón theo tỷ lệ N:P:K (1:1:1), (0,5: 2:1), (1:1:3) và có bổ sung vi lượng (B0 , Zn , Mn ) tương ứng vơi các giai đoạn: sau thu hoạch, trước ra hoa, nuôi quả cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất ở cả 2 vụ thí nghiệm.

- Kỹ thuật bấm tỉa ngọn cành trước ra hoa và tỉa thưa trái, thời điểm thu hoạch trái thích hợp trên cây MC tại Tây Ninh đạt yêu cầu khoa học, dễ áp dụng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

+ Kỹ thuật bấm ngọn cành, tỉa thưa quả ở 2 vụ sản xuất (vụ mưa và vụ nắng) cây vẫn ra hoa nhưng việc bấm ngọn cành cây ra hoa chậm và kéo dài hơn kỹ thuật tuốt lá bằng tay không bấm ngọn cành. Kỹ thuật tỉa thưa quả ở các mức độ quả trên cây khác nhau cho kết quả: ở vụ mùa mưa mức để lại 50-70 quả/cay và vụ mùa nắng mức để lại 50 qua/cây cho năng suất thực thụ và quả loại 1 cao đạt hiệu quả kinh tế nhất.

- Xác định hóa chất làm rụng lá trước khi ra đọt non trên cây MC thích hợp.

+ Sử dụng hóa chất thiourea, ethephone cho thấy: ở các nồng độ thí nghiệm có tác động đến sự rụng lá và ảnh hưởng đến ra hoa mãng cầu ta nhưng mức độ thấp hơn so với tuốt lá bằng tay và khác nhau ở 2 vụ sản xuất, ở vụ mưa (vụ 1) sử dụng hóa chất cây vẫn cho năng suất nhưng ở vụ nắng (vụ 2) ra hoa và năng suất thấp hơn so với kỹ thuật tuốt lá. Tuy nhiên, chi phí sử dụng hóa chất thiourea, ethephone xử lý ra hoa mãng cầu ta thấp hơn hoặc tương đương với công lao động tuốt lá, riêng hóa chất thiourea chi phí thấp hơn nhiều.

- Kết quả nghiên cứu độ chín mãng cầu ta chỉ ra rằng: ngày thu hoạch mãng cầu ta thích hợp khoảng 92 - 96 ngày (tính từ khi nở hoa tới khi thời điểm thu hoạch). Sau khi thu hoạch để ở nhiệt độ phòng trong vòng 4-5 ngày quả sẽ chín và cho chất lượng tốt.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 2079/QĐ-UBND ngày 16/9/2008. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông ứng dụng trong công tác quản lý của ngành.

- Giúp cho nông dân sản xuất mãng cầu hiểu biết được: vùng đất và kỹ thuật trồng mãng cầu; Giống và cách nhân giống mãng cầu; kỹ thuật bón phân; dịch hại trên cây mãng cầu và biện pháp phòng trừ; cách bảo quản thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.

Cách thu hoạch, phân loại và bảo quản sản phẩm; sức khoẻ, an toàn và an sinh của người lao động.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuậtGiám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài bên công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Tại Ðại hội Công đoàn Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017- 2022, có một cá nhân được Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng lao động sáng tạo trong phong trào thi đua yêu nước năm 2016. 

Trước đó, ông đã được Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tặng Bằng khen “Ðã có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến, sáng tạo, cải tiến khoa học kỹ thuật trong đơn vị góp phần xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ngày càng vững mạnh”. Người được vinh dự đón nhận Bằng lao động sáng tạo và bằng khen vừa nêu là kỹ sư Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi (thuộc Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh). 

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

“Biến” xe chở mủ thành xe chữa cháy

“Phương án lắp đặt đơn giản, chi phí thấp, tính ứng phó kịp thời tại chỗ, tính phổ dụng xã hội hoá cao, nâng cao hiệu quả phòng - chữa cháy” là kết quả ứng dụng công trình của kỹ sư Tài. Ông cho biết, Nông trường cao su Bến Củi quản lý 2.270 ha cao su. Mùa khô cũng là mùa cao su thay lá. Toàn bộ lá trên cây rụng xuống đất thành một lớp khá dày, rất dễ cháy.

Ngoài ra, hằng năm, nông trường thanh lý từ 150 ha đến 200 ha cây cao su trong mùa khô; các cành lá sau khi cưa cắt để lại rất dễ cháy và lây lan đến các vườn cây xung quanh. Thực tế tại nông trường đã xảy ra hai vụ cháy trong quá trình thanh lý vườn cây. Vào mùa khô, nông trường đều lập kế hoạch và phương án phòng cháy, chữa cháy (PCCC), huy động nhiều công nhân cho công tác PCCC, nhưng phương tiện chữa cháy rất thô sơ.

Trước thực trạng đó, kỹ sư Tài băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi giải pháp chữa cháy tại chỗ đạt hiệu quả cao. Từ phương tiện sẵn có của nông trường là xe vận chuyển mủ có 3 tank (3 bồn chứa mủ), máy bơm dùng bơm mủ lên tank, kỹ sư Tài nảy sinh ý tưởng chuyển công năng sử dụng từ bồn vận chuyển mủ thành bồn chứa nước và máy bơm mủ thành máy tạo áp lực cho vòi rồng thực hiện việc chữa cháy. Khi mùa khai thác mủ kết thúc, cũng là mùa cao su bắt đầu thay lá, cây ngưng cạo, khi đó bồn chứa mủ, máy bơm mủ được dùng cho xe PCCC.

Kết quả thử nghiệm cho thấy, tất cả các phương tiện được lắp đặt hệ thống chữa cháy do ông Tài thiết kế đều có khả năng di chuyển, tiếp cận điểm cháy với phạm vi hoạt động không hạn chế. Ðộ phun xa của đầu rồng phụ thuộc vào công suất của máy bơm (máy bơm 5 CV phun xa 30m, máy bơm 9 CV phun xa 50m). Thời gian hoạt động phun chữa cháy của mỗi xe chứa 3 bồn nước là 30 phút. Ðể có nguồn nước cung cấp cho công tác chữa cháy, nông trường bố trí các giếng khoan phân bố đều trong vườn cây cao su.

Sau khi thử nghiệm, xe chữa cháy tự chế của kỹ sư Tài đáp ứng đầy đủ tính năng theo yêu cầu của cơ quan PCCC. Ðặc biệt là tổng chi phí cải tiến xe chở mủ thành xe PCCC chỉ 9,5 triệu đồng, giảm chi phí đầu tư trang bị xe chữa cháy chuyên dùng đến 800 triệu đồng/xe. Có xe chữa cháy này, nông trường tiết kiệm rất đáng kể trong việc bố trí công nhân trực chống cháy cho toàn bộ diện tích vườn cây.

Theo kỹ sư Tài, không chỉ đối với vườn cao su, mà đối với vùng trồng mía, từ phương tiện máy móc sẵn có, các chủ trang trại có thể tự lắp đặt máy chữa cháy theo thiết kế của ông. Ðối với các khu bảo tồn, rừng phòng hộ, khu di tích, kể cả khu dân cư đô thị cũng có thể trang bị máy chữa cháy này.

“Cây” sáng kiến của ngành cao su

Trước đó, ông Tài đã có nhiều công trình sáng kiến cải tiến kỹ thuật khác, đáng lưu ý như: kỹ thuật tạo tán vườn cây kiến thiết cơ bản; công cụ xử lý cây nghiêng trên vườn cây kinh doanh; công cụ khai thác vườn cây tận thu; sử dụng máy bón phân thay thế bón phân thủ công trên vườn cây kiến thiết cơ bản.

Về kỹ thuật tạo tán, kỹ sư Tài cho biết, nhằm khống chế ưu thế về ngọn của vườn cây kiến thiết cơ bản dòng vô tính (phân cành cao dễ ngã đổ), qua quá trình quản lý, nghiên cứu, tìm tòi phân tích đặc tính hình thái của cây cao su, vào năm 2006, ông đưa ra phương pháp cắt ngọn tạo tán cho giai đoạn kiến thiết cơ bản đối với vườn cây năm thứ 2, thứ 3.

Nhờ có kỹ thuật tạo tán, cây phân cành hợp lý, thân cây phát triển đồng đều, thúc đẩy độ tăng nhanh quành tròn thân cây, bảo đảm mật độ vườn cây, hạn chế gãy đổ do gió. Cũng từ đó, người trồng cao su rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản của cây từ 6 tháng đến một năm (so với trước khi chưa có kỹ thuật tạo tán). Công trình này đã được áp dụng cho toàn ngành cao su.

Theo kỹ sư Tài, đây là công trình vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật cao, để nâng cao chất lượng vườn cây, tạo tiềm năng năng suất cho thời kỳ kinh doanh.

Hằng năm vào mùa mưa bão, giông lốc, nỗi lo vườn cây cao su kinh doanh bị gãy đổ luôn là vấn đề nhức nhối của người trồng cao su, nhất là trên dòng vô tính RRIV4. Ðể xử lý cây nghiêng, có nguy cơ gãy đổ trên vườn cây nhóm 1 đang khai thác, trước kia, nông trường cho người leo lên cây chặt tỉa nhánh. Công việc này không bảo đảm an toàn lao động, năng suất thấp, hiệu quả không cao (không mé được những nhánh trên ngọn cao). Sau đó, nông trường dùng xe chuyên dụng đưa người và máy cưa lên cao để xử lý; cách làm này quá tốn kém và năng suất cũng thấp.

Từ thực trạng đó, năm 2012, kỹ sư Tài nghĩ ra cách dùng lưỡi câu liêm nối cán dài để tỉa cành cây nghiêng. Cách làm này bảo đảm an toàn lao động, vừa nâng cao năng suất mà chi phí rất thấp, dễ thực hiện, hiệu quả cao. Phương pháp này được đưa sang Lào áp dụng xử lý hàng ngàn ha cao su bị gió lốc nghiêng ngả.

Trước đây, để khai thác tận thu trên vườn cây cao su chuẩn bị thanh lý, công nhân phải bắc thang (hoặc ghế cao) để cạo, vừa không an toàn mà năng suất thấp. Sau đó, nông trường cải tiến bước đầu là dùng cây tầm vông dài nối làm cán dao cạo.

Cách làm này cũng có hiệu quả, nhưng không linh hoạt theo chiều cao cạo miệng, hạn chế năng suất lao động và cũng không khai thác hết tiềm năng năng suất vườn cây chuẩn bị thanh lý. Năm 2010, kỹ sư Tài tạo ra dụng cụ khai thác vườn cây tận thu tiên tiến và hiệu quả hơn. Ðó là dùng cán dao kim loại có 3 đoạn nối nhau bằng chốt khoá, để người công nhân linh hoạt khai thác ở nhiều độ cao khác nhau.

Ðồng thời, cán dao 3 đoạn này cũng tương thích với 3 công dụng khác nhau: lắp đặt vào lưỡi dao cạo; lắp đặt vào dụng cụ bấm máng và dụng cụ bôi kích thích. Nhờ sử dụng công cụ trên, công nhân khai thác hết tiềm năng năng suất cây chuẩn bị thanh lý. Cụ thể, trước đây chỉ khai thác được 1,6 tấn/ha, nay đã nâng lên được 2 tấn/ha. Bộ công cụ này nay đã được áp dụng rộng rãi trong ngành cao su.

 Ngày trước, việc bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản theo phương pháp thủ công. Do vườn cây rộng lớn, nên hằng năm đến mùa vụ bón phân đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn nhân lực. Cách bón thủ công còn nhiều hạn chế về kỹ thuật, năng suất lao động thấp, cần nhiều lao động và tính hại cao (do công nhân tiếp xúc trực tiếp với phân bón).

Do vậy, kỹ sư Tài đã nỗ lực cải tiến thành công máy bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản và đưa vào sử dụng. Ðây là máy tự hành (tự trộn, tự rạch hàng, tự bón, tự lấp đất), với những ưu điểm thấy rõ: năng suất cao (20 ha/ngày/máy), đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật, giảm độc hại, giảm chi phí thuê công nhân (một máy thay thế 20 công nhân bón phân thủ công) và dễ quản lý, kiểm soát.

Qua nhiều năm trải nghiệm trong ngành, kỹ sư Nguyễn Văn Tài đã tự nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi để có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây, giảm thâm dụng lao động, ứng phó hiệu quả với tình hình giá cao su giảm sâu và khủng hoảng thiếu lao động như hiện nay.

Kỹ sư Tài tâm sự: “Khi một sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được tạo ra mà tác giả cố giữ bí mật chỉ để làm lợi riêng cho mình thì hiệu quả mang lại sẽ hạn chế. Do đó, sáng kiến chỉ có giá trị khi được nhân rộng”. Chính vì vậy, ông rất vui khi những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của mình được phổ biến khắp nơi.

Theo Báo Tây Ninh Online

11/09/2017 9:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu ứng dụng xây dựng kho tài liệu và cơ sở dữ liệu địa chí tỉnh Tây NinhNghiên cứu ứng dụng xây dựng kho tài liệu và cơ sở dữ liệu địa chí tỉnh Tây Ninh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Phạm Hồng Toàn và CN. Võ Thị Kim Thanh Cơ quan chủ trì: Thư viện tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 - 2005 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 168,24 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xây dựng kho tài liệu địa chí trong thư viện tỉnh Tây Ninh

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, sao chụp các tài liệu có liên quan đến tỉnh Tây Ninh về:

-  Tự nhiên và dân cư bao gồm: Địa lý hành chính, địa hình, địa chất khoáng sản, khí hậu thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật, động vật, dân cư, dân số, dân tộc.

-  Lịch sử và truyền thống đấu tranh, tình hình chính trị xã hội.

-  Kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc.

-  Văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao.

Tổ chức kho tài liệu địa chí trong thư viện tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thu thập được 5.011 tài liệu và đóng bìa thành 189 quyển. Tất cả tài liệu đều được xử lý nghiệp vụ tại Thư viện tỉnh Tây Ninh. Tài liệu đưa vào thư mục bao gồm sách, báo, tài liệu lưu trữ từ năm 2004 trở về trước. Những tài liệu trên, báo chí Trung ương hầu hết được khai thác.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 215/QĐ-UBND ngày 02/10/2006. Bộ thư mục tài liệu địa chí được phục vụ bạn đọc tại Thư viện tỉnh Tây Ninh Từ năm 2007 đến nay tổng số lượt bạn đọc: 814 lượt, chủ yếu là học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh nước ngoài đến tham khảo tài liệu dùng vào việc học tập và nghiên cứu, viết luận án tốt nghiệp (Thạc sĩ, Tiến sĩ...) cụ thể như sau:

-  Huỳnh Phương Trang, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh với Đề tài: “Đạo Cao Đài hiện nay và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ”.

-  Bùi Thị Bửu Châu, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh, Đề tài “Phân tích chính sách tài chính đầu tư cho ngành giáo dục địa phương”.

-  Lương Hồng Nhung, giáo viên Trường THPT Tây Ninh, Đề tài “Nghiên cứu đa dạng hóa cây ăn quả ở Thị xã Tây Ninh”.

-  Nông Thế Hải, giáo viên Trường CĐSP Tây Ninh, Đề tài “Công nhân Tây Ninh giai đoạn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”;

“Vấn đề xóa đói giảm nghèo bền vững ở Tây Ninh giai đoạn từ nay đến 2015 (tầm nhìn đến 2020)”.

“Đổi mới tư duy và lối sống của cộng đồng người Việt ở Tây Ninh giai đoạn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

“Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở tỉnh Tây Ninh”.

-  Nghiên cứu sinh người Nhật tên Kitazava-Nahiro mượn tài liệu viết luận án Tiến sĩ, Đề tài “Tôn giáo Cao Đài ở Tây Ninh”. Thời gian 01 năm từ tháng 11/2010 đến tháng 11/2012.

-  Sinh viên Trần Quang Nhựt - Khoa sử Trường Đại học Quy Nhơn mượn tài liệu địa chí viết luận văn tốt nghiệp Đại học. Đề tài “Giáo lý, kiến trúc xây dựng, nghi lễ trang phục, Tam kỳ phổ độ - Cao Đài Tây Ninh”.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây NinhNghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Minh Trọng Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2000 - 2002 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 717,28 triệu đồng (hỗ trợ kinh phí) Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

- Đối với cấp huyện, thị: nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975- 1995) nhằm nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn của 20 năm, rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

- Đối với cấp xã: Nêu bật vai trò của Đảng bộ xã lãnh đạo và chỉ đạo phong trào chiến tranh nhân dân trên địa bàn của mình, vượt mọi khó khăn gian khổ hy sinh lập nên những chiến tích anh hùng, đánh bại những âm mưu thủ đoạn của thực dân pháp và đế quốc Mỹ trên địa phương của mình.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các huyện: Thị xã, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Tân Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng và 17 xã anh hùng như: Phường 1, Phường 2 thị xã Tây Ninh; An Thạnh huyện Bến Cầu; Chà Là, Cầu Khởi huyện Dương Minh Châu; Hiệp Thạnh, Thanh Phước huyện Gò Dầu; Lộc Hưng, Gia Lộc huyện Trảng Bàng; Trường Đông, Ninh Thạnh huyện Hòa Thành; Thạnh Bình, Hòa Hiệp huyện Tân Biên; Tân Đông, Tân Hưng huyện Tân Châu; Thanh Điền, Thái Bình huyện Châu Thành.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tài liệu chuẩn xác về lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 1995) và truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975) tỉnh Tây Ninh .

- Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành (1975 - 2000)

+ Đảng bộ và quân dân Châu Thành phấn khởi thấy huyện nhà đã có bước tiến khá dài, đạt được những thành tựu rất quan trọng. Đến năm 2000, lương thực bình quân đầu người đạt 934,2 kg/năm; sản lượng công nghiệp tăng hàng trăm lần so với năm 1976; hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển sôi động và khá nhộn nhịp, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh.

+ Đảng bộ, Mặt trận ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng (Đảng bộ tăng 3,5 lần; Mặt trận, đoàn thể tăng từ 5 đến 10 lần); bộ máy chính quyền ngày càng được củng cố vững chắc.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Trảng Bàng (1975 - 2000).

+ Trảng Bàng được xác định là huyện trọng điểm về sản xuất lương thực của tỉnh Tây Ninh; các lĩnh vực văn hóa xã hội có những bước tiến tích cực. Hệ thống tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể được xây dựng và kiện toàn, chính trị từng bước được ổn định dần và được củng cố vững chắc hơn.

+ Kinh tế nhiều thành phần phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được đẩy mạnh; giao thông từ huyện về xã được nhựa hóa, đường về các ấp được nâng cấp trãi sỏi đỏ, thuận lợi cho đi lại của nhân dân; hệ thống điện lưới quốc gia đã về 100% ấp; sự nghiệp giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng.

+ Đảng bộ huyện Trảng Bàng luôn tăng về số lượng và chất lượng; đến năm 2000, toàn Đảng bộ đã có 2001 đảng viên sinh hoạt ở 49 chi đảng bộ cơ sở. Tất cả các ấp trong huyện điều có chi bộ lãnh đạo.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Bến Cầu (1975 - 2000).

+ Thời kỳ 10 năm sau giải phóng, nhiệm vụ chính là cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, lấy sản xuất lương thực làm nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, khôi phục và phát triển các ngành sản xuất, các hoạt động văn hóa - xã hội để từng bước ổn định đời sống nhân dân.

+ Từ năm 1991 - 2000, giai đoạn này tình hình kinh tế - xã hội của huyện đi vào thế ổn định và phát triển khởi sắc, khá toàn diện. Việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương từng bước phù hợp và có hiệu quả hơn, từ đó đã tạo ra được những bước tiến khá mạnh mẽ trên các lĩnh vực.

- Lịch sử Đảng bộ Thị Xã (1975 - 2000).

+ Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thị Xã cùng với sự nổ lực của nhân dân Thị xã đã trãi qua những bước thăng trầm của từng thời kỳ lịch sử, cố gắng vượt qua nhiều khó khăn thử thách để từng bước đi lên, nhất là từ khi có đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, đã nổ lực phấn đấu để xây dựng Thị xã Tây Ninh thành một Thị xã hoàn chỉnh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Châu (1989 - 2000).

+ Tân Châu là huyện mới thành lập, cho nên việc phát triển cơ sở hạ tầng được Đảng bộ huyện xác định là nhiệm vụ trọng tâm; ưu tiên đầu tư cho phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục đào tạo tác động tích cực vào quá trình ổn định xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Gò Dầu (1975 - 2000).

+ Trên cơ sở phát huy truyền thống cách mạng tốt đẹp của mình và thuận lợi tiềm năng kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cấp trên; toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Gò Dầu vẫn từng bước kiên trì vươn lên, nỗ lực thực hiện và giành được nhiều thành tựu đáng kể trên hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động, tạo tiền đề để huyện bước vào thời kỳ mới tốt đẹp hơn.

+ Về sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2000 tăng 2,1 lần so năm 1997; mạng lưới thủy lợi được hình thành khắp trong toàn huyện với 46,6 km kênh cấp I; 103,8 km kênh cấp II và 150 km kênh cấp III đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho hơn 4.000 ha cây trồng toàn huyện.

+ Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ: ngày càng phát triển, nhất là xay xát và chế biến, các yêu cầu về sửa chữa cơ khí được đáp ứng tốt; cơ sở vật chất hạ tầng của huyện ngày càng được tập trung xây dựng và mở rộng.

+ Các hoạt động văn hóa - xã hội; ngày càng có sự chuyển biến đáng kể; nhu cầu học tập của con em nhân dân được đáp ứng tốt; trang thiết bị ngành Y tế được tăng cường, đội ngũ Y-Bác sĩ được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Biên (1975 - 2000)

+ Tân Biên chỉ thực sự bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế từ những năm 80 của thế kỷ 20; đây là giai đoạn đặc biệt trong bối cảnh những khó khăn chung của đất nước, đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Tân Biên từng bước vượt qua, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, giữ vững an ninh địa bàn và tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng bảo đảm vững chắc biên giới.

+ Từ năm 1990 - 2000, Đảng bộ Tân Biên quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ và tạo đà vững chắc bước vào thế kỷ XXI; tiếp tục củng cố và phát triển huyện nhà ngày càng giàu đẹp.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Dương Minh Châu (1975 - 2000)

+ Về công tác xây dựng Đảng, huyện đã quan tâm tổ chức nhiều đợt học tập chỉnh huấn nghị quyết của Đảng; không ngừng cải tiến tác phong lề lối làm việc, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, gắn liền với tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

+ Đảng bộ huyện Dương Minh Châu xác định; xây dựng Đảng vững mạnh trên cả 3 mặt (chính trị, tư tưởng và tổ chức) là nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi.

+ Quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân của huyện là quá trình phát huy truyền thống yêu nước, tin Đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn lịch sử.

- Truyền thống cách mạng của 17 xã anh hùng: đã trải qua nhiều hy sinh gian khổ, cùng một lúc phải đương đầu trực tiếp với nhiều kẻ thù nguy hiểm. Nhưng nhân dân các xã quyết một lòng theo Đảng, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm đề tài được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy in thành sách gồm: sách lịch sử đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 2000); sách truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975).

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hiện trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai, quán triệt và tổ chức thức hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của ĐảngHiện trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai, quán triệt và tổ chức thức hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng
Chủ nhiệm đề tài: CN. Võ Hiền Phương Cơ quan chủ trì: Văn phòng Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2009 Kinh phí thực hiện: 95,53 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá đúng thực trạng việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nêu được những ưu điểm, nhược điểm, đặc biệt là chỉ ra được những yếu tố nào làm cản trở chỉ thị, nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống và tìm ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục.

Đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tiến hành Điều tra, khảo sát công tác triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trên 9 huyện, thị thuộc tỉnh Tây Ninh.

Các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của việc triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

Tổ chức triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng thí điểm ở hai huyện Hòa Thành và Tân Biên.

Tập huấn cho đội ngũ cán bộ, báo cáo viên tiến hành thực hiện và từng bước rút kinh nghiệm bổ sung để hoàn thiện.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua tham khảo ý kiến của 1.073 đối tượng, trong đó có 128 đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, 209 đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp huyện - thị và tương đương, 228 đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, 173 đảng viên, 335 quần chúng ngoài Đảng cho thấy: có 23,11% ý kiến cho rằng chỉ được nghe phổ biến trong cuộc họp cấp ủy hay chi bộ; có 20,88% được nghe phổ biến chỉ thị, nghị quyết rồi thảo luận; có 40,73% được cấp ủy hoặc báo cáo viên giới thiệu rồi thảo luận quán triệt; 15,28% ý kiến về các hình thức khác.

+ Phương thức tuyên truyền chỉ thị, nghị quyết của Đảng ra quần chúng nhân dân trên thực tế cũng chỉ tập trung vào 3 hình thức phổ biến: đọc cho dân nghe qua đài phát thanh địa phương 23,67% ý kiến; họp dân theo tổ dân phố hay thôn ấp rồi đọc tài liệu 38,58% ý kiến; họp dân mời báo cáo viên đến báo cáo 37,74% ý kiến.

+ Có sự đổi mới về hình thức và chất lượng: cách thức chỉ đạo tổ chức học tập được tập trung hơn, hình thức học tập cũng có nhiều điểm cải tiến cho phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Điều này đã thể hiện qua kết quả điều tra xã hội học, đảng viên và quần chúng cho thấy có 62,91% ý kiến đồng ý với nhận định trên (trong đó có 22,74% còn cho là đã có nhiều đổi mới). Sự đánh giá này giữa các nhóm cán bộ, đảng viên, quần chúng là tương đối giống nhau. Nhóm cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh tỷ lệ tương ứng là 62,5% và 27,27%; nhóm cán bộ cấp huyện, thị là 62,68% và 35,32%. Nhóm cán bộ cơ sở là 44,88% và 35,03%; nhóm đảng viên là 78,3% và 12,72%; nhóm quần chúng ngoài Đảng là 61,73% và 11,09%.

- Tổ chức học tập quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở các cấp, các ngành trong tỉnh là tương đối nghiêm túc: kết quả điều tra xã hội học cho thấy có 65,43% ý kiến đồng tình với nhận định này, trong đó nhóm cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh cao nhất (83,59%), tiếp đến là nhóm cán bộ lãnh đạo cấp huyện (81,34%), nhóm đảng viên không giữ chức vụ (67,05%), nhóm quần chúng ngoài Đảng (65,37%), chỉ có nhóm cán bộ cấp cơ sở là thấp (39,48%).

Sự nghiêm túc trong tổ chức chỉ đạo học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng thể hiện: các Đảng bộ trong tỉnh đã nghiêm túc chấp hành chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và sự hướng dẫn của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương về nội dung, kế hoạch, quy trình, đối tượng học tập. Mỗi lần học tập nghị quyết của đảng, các cấp uỷ đều xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết của đảng ở địa phương, ngành, cơ quan mình để nhanh chóng đưa nghị quyết của đảng đi vào cuộc sống. Qua đó đã dần dần hình thành được ý thức, nâng cao được tính tổ chức kỷ luật trong việc học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của đảng trong toàn đảng bộ.

Tuy nhiên, việc cụ thể hóa chỉ thị, nghị quyết của Đảng thành kế hoạch (chương trình hành động) của cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở nhìn chung là tích cực, nghiêm túc, nhưng chất lượng chưa cao; đặc biệt là càng xuống cấp dưới thì chất lượng lại càng giảm (có 64,31% ý kiến nhất trí với nhận định trên, trong đó nhóm cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh 63,28%; cấp huyện thị 55,8%; cơ sở 68,84%; đảng viên 68,71%; quần chúng ngoài Đảng 60%). Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên:

+ Về khách quan: việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật và các văn bản pháp quy của Nhà Nước để toàn dân thực hiện, của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp còn chậm trễ, có chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành phải 2 - 3 năm sau Quốc hội mới thể chế thành luật hay pháp lệnh. Còn từ luật hay pháp lệnh của Quốc hội đến nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn của bộ hay liên bộ lại càng chậm hơn. Đó là chưa kể giữa luật, pháp lệnh của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của Bộ hay liên Bộ cũng có không ít trường hợp thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

+ Về chủ quan: các cấp ủy đảng chưa lường hết những tình huống khó khăn trong quá trình chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng nên thường bị động, lúng túng trước những vấn đề phát sinh trong thực tiễn; sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao.

- Nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa việc tổ chức học tập triển khai, quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng: tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng quy trình và hình thức tổ chức học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

        Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1742/QĐ-UBND ngày 27/8/2009. Từ kết quả nghiên cứu Cơ quan chủ trì và Chủ nhiệm đề tài đã soạn thảo thành nội dung tài liệu tập huấn và tiến hành tập huấn cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ cơ sở trong tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai, tổ chức thực hiện các chỉ thị và nghị quyết của Đảng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây NinhĐiều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài:Ths. Đặng Hòa Vĩnh Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 503,802 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Xác định cơ sở dữ liệu về điều kiện tài nguyên thiên nhiên các vùng đất ngập nước (ĐNN) tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá hiện trạng sử dụng ĐNN, xác định chức năng các vùng ĐNN.

-     Cung cấp luận cứ khoa học cho việc quy hoạch, quản lý khai thác và bảo vệ các vùng ĐNN.

-     Đề xuất phương hướng, biện pháp trong công tác khai thác, quản lý, bảo vệ, và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN (có xét đến các điều kiện thay đổi trong tương lai).

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Nghiên cứu các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và quá trình khai thác đất đai có liên quan đến ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Xây dựng bản đồ ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá, dự báo các tác động của con người đến ĐNN trong tương lai.

-     Nghiên cứu, đề xuất phương hướng bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Kết quả kiểm kê ĐNN tỉnh Tây Ninh: 181.539,41 ha chiếm 45,05% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó: đất ngập nước thuộc sông 152.405,28 ha (chiếm 83,95%); đất ngập nước thuộc hồ 28.368,20 ha (chiếm 15,63%); đất ngập nước thuộc đầm 7.765,93 ha (chiếm 4,28%).

-     Chức năng của ĐNN phụ thuộc vào tính chất và vị trí phân bố của từng đơn vị ĐNN khác nhau.

+ Các vùng cao thuộc thượng nguồn hồ Dầu tiếng, bờ phải rạch bến, bờ phải rạch Bến Đá: là vùng khan hiếm nguồn nước, nhưng lại có vai trò rất lớn trong việc cung cấp nước ngọt cho dân sinh và nhiều loài thủy sinh vật;

+ Các vùng tưới của hồ Dầu tiếng: nguồn nước dồi dào, tưới tiêu chủ động; tạo ra môi trường hoạt động cho các ngành kinh tế như thủy sản, nông - lâm nghiệp, giao thông thủy, sản xuất năng lượng, du lịch, khai khoáng;

+ Các vùng ven sông Vàm Cỏ Đông: là nơi tiếp nhận các dưỡng chất, tích lũy các độc chất do các hoạt động khai thác phái trên đổ xuống; là nơi thanh lọc chất gây ô nhiễm, điều hòa lũ lụt. Đây cũng chính là nơi sinh sống quan trọng cho nhiều loài động vật hoang dã, sinh sản của nhiều loài thủy đặc sản địa phương.

-     ĐNN Tây Ninh hiện đang đứng trước nhiều nguy cơ xâm hại.

+ Tình trạng khô kiệt và mất ĐNN: các vùng ĐNN tại Tây Ninh đang ngày càng trở nên khô hơn do tình trạng phá rừng và áp lực gia tăng diện tích canh tác; khai thác tài nguyên quá mức: nguồn lợi thủy sản đã giảm súc đáng kể; ô nhiễm nguồn nước: hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ô nhiễm hữu cơ; sự xâm lấn các loài cỏ dại: nhiều loài cỏ dại không có nguồn gốc bản địa, trong đó có những loài cây gây ảnh hưởng xấu (Mai dương, Lục bình, thủy thảo).

-     Để khai thác hiệu quả và bền vững tài nguyên đất ngập nước, cần phải hạn chế việc lạm thác tài nguyên thủy sản; loại trừ các hình thức khai thác mang tính chất hủy diệt; bảo vệ an toàn môi trường hồ chứa; duy trì đa dạng sinh học; phát huy và mở rộng mô hình du lịch sinh thái.

+ Hệ thống canh tác vùng bán ngập cần đảm bảo an toàn về xói mòn và sạt lở bờ hồ; quản lý chặt chẽ việc sử dụng phân bón trên vùng bán ngập và đặc biệt cấm tuyệt đối việc sử dụng thuốc trừ sâu trên vùng đất này;

+ Xây dựng đê bao chống lũ triệt để vùng ven sông Vàm Cỏ Đông, có thể gây ảnh hưởng đến các chức năng chính của hệ thống ĐNN ven sông này; trước mắt cần san lấp các kênh tiêu trong các vùng đất lâm nghiệp; tại những vị trí buộc phải có cống tiêu, cần có cửa kiểm soát, cuối mùa mưa cống cần được đóng lại duy trì chế độ ngập tự nhiên trong trảng, kéo dài thời gian ngập trong mùa khô;

+ Hiện tại ô nhiễm nguồn nước trên hệ thống kênh rạch đã đến mức báo động, để cải thiện ô nhiễm môi trường hệ thống kênh rạch, ngoài biện pháp quản lý các nguồn nước thải xả xuống hệ thống, còn có thể lợi dụng nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng.

-     Thành lập các bản đồ, sơ đồ về điều kiện tài nguyên thiên nhiên trên các vùng đất ngập nước; bản đồ kiểm kê đất ngập nước tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000; các bản đồ các vùng đất ngập nước tiêu biểu tỷ lệ 1/25.000; các bảng biểu thống kê, phân loại và đánh giá về đất ngập nước tỉnh Tây Ninh; các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp; bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất ngập nước.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 462/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến các cơ quan và đơn vị có liên quan để phục vụ trong công tác quản lý của ngành: Công ty Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng ứng dụng trong khai thác vận hành hồ chứa; Sở Tài nguyên & Môi Trường ứng dụng trong quản lý tài nguyên đất ngập nước.

-     Sở NN&PTNT (Sở tiếp nhận 01/2011): kết quả áp dụng đã triển khai áp dụng 02 dự án:

+ Dự án đê bao chống lũ ven sông Vàm Cỏ nhằm bảo vệ và phát triển diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích tưới 1.800 ha, diện tích tiêu 2.500 ha;

+ Dự án xây dựng đập tràn rạch Tây Ninh nhằm cải thiện tình trạng ô nhiểm rạch Tây Ninh tạo mỹ quan đô thị.

Một số giải pháp áp dụng trong các năm tiếp theo:

+ Xây dựng một số đập tràn, hồ chứa nhỏ vùng Bắc Tây Ninh nhằm giải lưu lượng lũ vào mùa mưa, giữ nước phục vụ sản xuất, tăng mực nước ngầm, cải thiện môi trường sinh thái;

+ Đầu tư một số công trình đê bao vùng ven sông Vàm Cỏ Đông phát triển sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản kết hợp mô hình sản xuất nông nghiệp với thuỷ sản, phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng kết hợp giao thông nội đồng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận mức độ ảnh hưởng sáng kiến cấp tỉnhCông nhận mức độ ảnh hưởng sáng kiến cấp tỉnh

​Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 24/6/2021 Công nhận 39 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh. 

Danh sách xem tại đây.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Hội đồng đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban thi đua – Khen thưởng, các đợn vị có liên quan và các cá nhân có sáng kiến được công nhận chịu trách nhiệm thi hành quyết định.



26/06/2021 3:00 CHĐã ban hànhTin
Ứng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnhỨng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Trịnh Đình Bình và KS. Nguyễn Văn Hùng. Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 165,812 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá.

 

MỤC TIÊU

- Ứng dụng công nghệ EM vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải chế biến khoai mì, cao su.

- Xây dựng quy trình công nghệ sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm CH4 , H2S và NH3, mùi hôi và đẩy nhanh tốc độ phân giải hữu cơ của rác thải sinh hoạt.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến khoai mì.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến cao su.

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của công nghiệp EM.

- Xây dựng quy trình công nghệ tối ưu để sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định có thể áp dụng công nghệ EM vào xử lý môi trường ở tỉnh Tây Ninh vì cho hiệu quả cao và dễ áp dụng. Cụ thể:

- Đối với chất thải rắn: được xử lý bằng cách phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm thể tích và độ giảm mùi cao hơn đáng kể so với phân hủy tự nhiên.

+ Rác thải được xử lý phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm về thể tích, số lượng côn trùng, ruồi nhặng, mùi cao hơn đáng kể so với không xử lý bằng EM.

+ Sau 27 ngày thí nghiệm trên mô hình cố định, thể tích các thùng (6 thùng; 2m2/thùng) giảm từ 18% - 30%. Nếu để tự nhiên sau 27 ngày thí nghiệm, thể tích các thùng giảm từ 13,3% - 16,7%.

+ Các thùng chứa hoàn toàn là rác thải hữu cơ (đã phân loại) độ cao của rác giảm nhiều hơn các thùng chứa rác hỗn hợp. Thùng phân loại rác sử dụng EM Việt Nam có độ cao của rác giảm nhanh gấp 1,5 lần so với thùng không phân loại sử dụng cùng loại EM. Thùng phân loại rác sử dụng EM Nhật có độ cao của rác giảm không đáng kể so với thùng không phân loại.

+ Xử lý 1m3 rác chỉ khoảng 2.000 đồng, điều đó cho thấy giảm đáng kể cho ngân sách địa phương trong công tác xử lý rác thải.

- Đối với nước thải: Nước thải từ chế biến khoai mì và cao su được xử lý bằng dung dịch EM đã làm giảm mạnh mùi hôi, các chỉ số COD, BOD, SS. Nồng độ EM1 Việt Nam 5%, hiệu quả xử lý tốt, so sánh chế phẩm Việt Nam và Nhật Bản:

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý SS cao hơn EM1 Nhật 2,6 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý COD cao hơn EM1 Nhật 7,9 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý BOD5 cao hơn EM1 Nhật 1,8 lần.

+ Theo tính toán ban đầu để giảm nồng độ BOD xuống 45%, nồng độ COD 35% so với nồng độ ban đầu, chi phí này khoảng 800 đ/m3 nước thải.

- Sản xuất chế phẩm EM tại Tây Ninh.

+ Chủng vi sinh: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh đã ứng dụng các giống vi sinh để sản xuất EM-1 và EM - Bokashi, đánh giá được một số chỉ tiêu thiết yếu như định danh các chủng vi khuẩn lactic thuộc giống Lactobacillus, Streptococcus.

+ Sản xuất dạng pilot: đã thiết lập được thành phần môi trường lên men sản xuất EM-1 và EM - Bokashi từ các nguyên liệu sẵn có ở tỉnh Tây Ninh như rỉ đường mía, cám gạo, khô dầu phộng bột cá, nước chiết giá và một số muối vô cơ.

+ Kết quả kiểm tra, phân tích: qua kết quả kiểm tra khách quan của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, EM-1 và EM - Bokashi đã sản xuất là những sản phẩm vi sinh có chất lượng tốt, không có các vi sinh vật gây bệnh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 01/02/2007. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào xử lý chất thải tại các nhà máy, cơ sở chế biến mì và cao su nhằm giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó

- Số sáng kiến cấp cơ sở đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 466/599, với 01 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), 239 sáng kiến đạt loại B (khá), và 226 sáng kiến đạt loại C (trung bình).

- Số sáng kiến cấp cơ sở không đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 133/599.

(Danh sách kèm theo) SO KH_CN GUI SAP XEP LAI DANH SACH (27-11-2018).doc

 

                                                                                              Ngọc Hà

11/12/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018

Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.

Theo nội dung Quyết định, toàn tỉnh có tất cả 91 sáng kiến được đề xuất công nhận sáng kiến cấp tỉnh. Sau khi được hội đồng sáng kiến cấp tỉnh (gọi tắt là Hội đồng) xem xét, đánh giá và đưa ra kết quả đánh giá gồm: 01 sáng kiến đạt loại A (Xuất sắc), 83 sáng kiến đạt loại B (Khá), 04 sáng kiến đạt loại C (Trung bình) và 03 sáng kiến không đạt yêu cầu công nhận là sáng kiến cấp tỉnh.

Được biết, sáng kiến duy nhất đạt loại A là về "Tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tổ chức, phối hợp tổ chức thực hiện việc ứng dụng mạng xã hội Zalo trong tiếp nhận phản ánh kiến nghị và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh". Đây là sáng kiến được đánh giá cao và đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Xem danh sách công nhận sáng kiến tại đây. Cong nhan SKCT 2018_Danh sach.doc

                                                                                                     Ngọc Hà

10/05/2019 3:00 CHĐã ban hànhTin loại 4
Công  nhận sáng kiến cấp tỉnhCông  nhận sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Theo đó, có 4 đề tài được xét đặc cách và 43 sáng kiến được công nhận (03 sáng kiến được xếp loại A, 33 sáng kiến được xếp loại B và 07 sáng kiến được xếp loại C). Đây cũng là điều kiện để xét công nhận đạt danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh".

Danh sách công nhận sáng kiến kèm theodanhsachcongnhansangkienct.rar

                                                                                        KGVX

04/04/2017 8:00 SAĐã ban hành
270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh270 sáng kiến được công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 10/3/2021, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 547/QĐ-UBND về việc Công nhận 270 sáng kiến có mức độ ảnh hưởng trong tỉnh Tây Ninh.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Hội đồng đánh giá mức độ ảnh hưởng sáng kiến tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Thi đua – Khen thưởng, các đơn vị có liên quan và các cá nhân có sáng kiến được công nhận chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
Danh sách chi tiết xem tại đây. Tải về

10/03/2021 2:00 CHĐã ban hànhTin
Điều tra khả năng và nghiên cứu qui hoạch nuôi trồng Thủy sản trong Hồ Dầu TiếngĐiều tra khả năng và nghiên cứu qui hoạch nuôi trồng Thủy sản trong Hồ Dầu Tiếng
Đồng chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Trọng Thanh và ThS. Nguyễn Thanh Tùng Cơ quan chủ trì: Công ty khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2003 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 238,45 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Xác định khả năng nuôi trồng thủy sản trong Hồ Dầu Tiếng, quy hoạch vùng nuôi trồng nhằm bảo vệ chất lượng nước và môi trường Hồ.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu.

- Khảo sát đo đạc địa hình, phân tích chất lượng nước lòng hồ.

- Phân tích và tính toán vị trí nuôi trồng.

- Phân tích số lượng bè cá được nuôi.

- Nguồn thức ăn, loại cá có thể phát triển.

- Hệ thống kiểm soát môi trường.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đề tài đánh giá tổng hợp các tư liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, hiện trạng phát triển làng bè, chất lượng nước, cơ sở thức ăn tự nhiên, các chiến lược của ngành thủy sản địa phương và công năng của Hồ Dầu Tiếng .

+ Vị trí hồ Dầu Tiếng: hệ thống công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng nằm trên địa phận Tây Ninh, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh; lưu vực hồ có diện tích 2.700 km2, trên vùng đồi núi thấp thuộc ba tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước thấp dần theo hai hướng Tây Bắc - Đông Nam với trung bình +50m so với mặt biển;

+ Chế độ thuỷ văn: nguồn nước cấp vào hồ có hai nguồn chính là nước mưa và nước mạch; nước mưa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng còn nước ngầm cung cấp một lượng muối; trong năm nước hồ tăng cao nhất là mùa mưa, sự thay đổi mực nước dẫn đến sự thay đổi thuỷ sinh vật và nguồn lợi cá, ảnh hưởng đến năng suất cá;

+ Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản trên hồ Dầu Tiếng: trước năm 2002 nuôi trồng thuỷ sản trong hồ phát triển khoảng 100 lồng chủ yếu nuôi cá Lóc đồng, cá Lóc bông. Đến năm 2002 phát triển phong trào nuôi cá Điêu hồng bằng lồng bè vị trí đặt trên kênh chính Tây, do ảnh hưởng cản trở dòng chảy gây ô nhiễm nguồn nước;

+ Trong quá trình nghiên cứu nguồn lợi thủy sản hồ Dầu Tiếng đã xác định được 54 loài cá thuộc 9 bộ, 19 họ khác nhau và hai loài tôm thuộc họ tôm càng palaemonidae.

+ Các yếu tố của nguồn nước có biến động nằm trong khoảng cho phép của tiêu chuẩn chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản: nhiệt độ, chất rắn lơ lững, độ pH, oxy... Tuy nhiên có một số yếu tố chất lượng nước có hàm lượng vượt mức cho phép của TCVN đối với đời sống thủy sinh vật: amonia, phosphate, sắt tổng số, chì.

+ Thành phần loài thực vật nổi khá đa dạng với tổng số 156 loài thuộc 6 ngành tảo nước ngọt. Trong đó chiếm ưu thế là ngành tảo lục, chủ yếu ở các giống Closterium, Cosmarium, Micrasterias, Pediastrum, Scenedesmus và Staurastrum.

+ Thành phần loài động vật nổi với tổng số 77 loài thuộc 4 ngành. Trong đó lớp trùng bánh xe Rotatoria (ngành Aschelminthes) có số lượng phong phú nhất với 36 loài; ngành chân khớp Arthropoda với 32 loài; ngành Protozoa 8 loài và ấu trùng Mollusca 1 loài.

+ Thành phần loài động vật đáy với tổng số 25 loài thuộc 3 ngành: Arthropoda (11 loài), Mollusca (10 loài), Annelida (4 loài). Theo đánh giá, thành phần giống loài tại khu vực này khá nghèo nàn so với các thủy vực khác.

+ Tình hình khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên hồ, các nông hộ chủ yếu sử dụng 2 loại ngư cụ: lưới xanh và vó đèn đã vi phạm các qui định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản bởi có tính hủy diệt cao. Trong khi việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong hồ mang tính tự phát, ồ ạt không tuân thủ theo các quy định của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi đã gây ô nhiễm nguồn nước, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Quy hoạch nuôi trồng thủy sản trong hồ Dầu Tiếng :

- Đề tài đã chọn phương án 1 (PA1), phương án 2 (PA2) là phương án thực hiện giải tỏa toàn bộ số lượng bè đang hiện hữu trên mặt hồ (trong đó PA1 là phương án trước mắt, sau khi hồ Phước Hòa hoàn thành đưa vào vận hành ổn định có thể xem xét thực hiện PA2).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

- Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 94/QĐ-UBND ngày 17/4/2006. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao Chi cục Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản ứng dụng có hiệu quả vào công tác quản lý trong thời gian qua.

- Theo số liệu điều tra của Chi cục Bảo vệ và phát triển nguồn lợi Thuỷ sản Tây Ninh, số lượng cá được thả hàng năm: năm 2008 (797.000 con), năm 2009 (2.218.182 con), năm 2010 (320.000 con), năm 2011 (596.810 con), năm 2012 (1.063.037 con); gồm các loại: Trắm cỏ, Trôi, Mè vinh, Chép, Lăng vàng, Mè hoa, Mè trắng, Hô, Tra, Tra dầu, Thát lát Cườm, Lóc bông; sản lượng đánh bắt cá hàng năm ( 2008 - 2012) bình quân 3.000 tấn.

- Giải tỏa dứt điểm việc nuôi cá bằng lồng, bè trong hồ Dầu Tiếng từ năm 2006, góp phần bảo vệ môi trường nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM.

- Hiện nay, Chi cục Bảo vệ và phát triển nguồn lợi Thuỷ sản Tây Ninh vẫn đang tiếp tục duy trì triển khai thả và đánh bắt cá theo kế hoạch hàng năm.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vịKhảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vị
Đồng chủ nhiệm đề tài: BS.CKI. Nguyễn Thị Thu và PGS.TS. Bùi Trung Cơ quan chủ trì: Sở Y tế tỉnh Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 201 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Đánh giá thực trạng tình hình xả thải chất ô nhiễm (nước thải và rác y tế) tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh.

- Xây dựng phương án và quy hoạch xử lý chất thải y tế (CTYT) cho từng đơn vị y tế cấp huyện, thị trấn và bệnh viện chuyên khoa của tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát thực trạng CTYT ở các đơn vị y tế trong tỉnh Tây Ninh.

- Xác lập hệ mô hình xử lý nước thải và lò đốt rác phù hợp.

- Xác lập phương án xử lý CTYT cho từng cơ sở y tế.

- Xây dựng quy hoạch lắp đặt hệ xử lý CTYT tại từng đơn vị.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Lần đầu tiên đã tiến hành khảo sát tại từng cơ sở, thu được các số liệu xác thực về nước thải, mức độ ô nhiễm trong nước thải và số lượng từng loại rác y tế xả ra trong ngày làm cơ sở để xác định qui mô để xử lý phù hợp. Việc khảo sát được thực hiện theo tiêu chuẩn khoa học và phù hợp với qui định của Nhà nước và Bộ Y tế về quản lý chất thải độc hại.

- Thực trạng tình hình xả thải chất ô nhiễm (nước thải và rác y tế) tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh.

+ Lượng chất thải y tế tại trung tâm y tế huyện Bến Cầu hiện nay ở mức trung bình thấp: lưu lượng nước thải bình quân thấp hơn 25 m3/ngày đêm (dao động trong khoảng 10 - 24 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm (dao động từ 3 - 16 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Châu Thành tương đối cao (dao động trong khoảng 56 -103 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 15 kg/ngày đêm (dao động từ 3 - 14,5 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Dương Minh Châu khá cao (dao động trong khoảng 40 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác thải y tế tương đối thấp (dao động từ 3 - 10 kg).

+ Lưu lượng nước thải ở Trung tâm y tế huyện Gò Dầu dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Hòa Thành hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác thải y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm (dao động từ 8 - 17,5 kg).

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm Phòng chống Lao hiện nay ở mức thấp: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 6 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 10 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Tân Biên hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải bình quân 28 m3/ngày đêm; lượng rác y tế thấp hơn 20 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Tân Châu hiện nay ở mức trung bình: lưu lượng nước thải phần lớn dao động trong khoảng 30 - 50 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp hơn 10 kg/ngày đêm và một lượng nhỏ các loại hóa chất.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế Thị xã Tây Ninh hiện nay ở mức tương đối thấp: lưu lượng nước thải thấp hơn 10 m3/ngày đêm; lượng rác y tế thấp hơn 4kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Trung tâm y tế huyện Trảng Bàng hiện nay tương đối cao: lưu lượng nước thải trung bình khoảng 50 m3/ngày đêm; lượng rác y tế khá cao 30 kg/ngày đêm.

+ Lượng chất thải y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền khá cao so với quy mô hoạt động của đơn vị: lưu lượng nước thải trung bình khoảng 74 m3/ngày đêm); lượng rác y tế thấp.

- Nghiên cứu thiết kế mô hình lò đốt rác y tế công suất 25 kg/ngày, các mô hình hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày và 30 m3/ngày. Các mô hình này thích hợp để triển khai tại cơ sở y tế cấp huyện, thị của tỉnh Tây Ninh.

+ Lò đốt rác y tế công suất 25 kg/ngày: nhiệt độ buồng sơ cấp (300 - 9000C); nhiệt độ buồng thứ cấp (1.000 - 1.1000C); điện năng sử dụng (380V- 3 pha- 50 Hz); công suất lắp đặt (20 KW (30 A)); nước sử dụng (Qmax= 100 lít/h; P= 1 Kgf/cm2); trọng lượng tổng cộng 600kg; xử lý khí thải (tách bụi - khói Nox - oxy hoá các chất hữu cơ; cặn sĩ - xử lý axít); điều khiển tự động; mặt bằng sử dụng (dài 3,5m x rộng 3m x cao 3m);

+ Hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày: hoạt động theo công nghệ phân huỷ sinh học do Viện công nghệ hoá học nghiên cứu cải tiến; với quy trình xử lý theo sơ đồ (nước thải —> hố thu —> bể điều hoà —> xử lý vi sinh yếm khí có giá thể —> xử lý vi sinh hiếu khí —> lắng trong —> thu bùn —> khử trùng —> thải ra); hệ xử lý được kết cấu theo bể bê tông cốt thép hợp khối, bền vững lâu dài và đảm bảo vệ sinh môi trường, mỹ quan chung;

+ Hệ xử lý nước thải y tế công suất 50 m3/ngày: Là công nghệ xử lý UFB của Viện Công nghệ hoá học; với quy trình công nghệ theo sơ đồ (nước thải —> hố thu —> bể điều hòa

—> xử lý vi sinh yếm khí có giá thể —> xử lý vi sinh hiếu khí —> lắng trong —> khử trùng—> thoát ra).

- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm và đề xuất phương án để xử lý CTYT tại các cơ sở y tế của tỉnh Tây Ninh với lò đốt rác và các hệ xử lý nước thải có công suất phù hợp.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Trên cơ sở những số liệu thống kê và các giải pháp kỹ thuật giúp Sở Y tế Tây Ninh xây dựng định hướng quy hoạch xử lý CTYT cho từng đơn vị trực thuộc.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018

Ngày 10/10/2017, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 2344/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018 

Quyết định phê duyệt danh mục:  2344.pdf

10/10/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Chung nhan Tin Nhiem Mang Số giấy phép: 02/GP-TTĐT, Sở Thông tin và Truyền thông Tây Ninh cấp ngày 22/09/2021.
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, Tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính:  Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh.
Điện thoại: 0276.3822233 - Email:toweb@tayninh.gov.vn.